Tuesday, 18 March 2014

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói

Thứ 3, 18/03/2014, 09:33

Theo số liệu của Hiệp hội mì ăn liền thế giới (WINA), Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tổng lượng gói/cốc mì tiêu thụ với 5,4 tỷ đơn vị mỗi năm sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ.

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói
Nội dung nổi bật:

- Người Việt ăn nhiều mì gói: Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tổng lượng gói/cốc mì tiêu thụ với 5,4 tỷ đơn vị mỗi năm sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ. Nếu tính theo số gói mì tiêu thụ trên đầu người, chúng ta đứng thứ 3 với trung bình 56,2 gói mì/người/năm.

- Và ngày càng nhiều hơn: Từ năm 2008 đến 2012, lượng tiêu thụ của chúng ta tăng gần 24%, tương đương với gần 1 tỷ gói, tức là mỗi người ăn thêm khoảng hơn 10 gói trong giai đoạn này. 
 
- Có tốt không? Rất khó để kết luận điều gì đang tạo ra tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp, đến 24% trong 4 năm của mì ăn liền. Có thể do đô thị hóa nhanh, do suy thoái kinh tế hay do ăn nhậu nhiều hơn... Thực tế ấy là nước ta đang ăn thêm nhiều một thứ ít chất dinh dưỡng (thậm chí độc hại) hơn bất kỳ nước nào.



Khi mà một hãng mì gói quảng cáo rằng họ “phục vụ hàng tỷ bữa ăn cho người Việt mỗi năm” thì hẳn ai cũng ý thức được rằng mì ăn liền không hẳn là bữa ăn, nó ít chất dinh dưỡng và chỉ chống lại cái đói. Và tuyên ngôn ấy, không phải điều đáng tự hào.
Theo số liệu của Hiệp hội mì ăn liền thế giới (WINA), Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tổng lượng gói/cốc mì tiêu thụ với 5,4 tỷ đơn vị mỗi năm sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ.Nếu tính theo số gói mì tiêu thụ trên đầu người, chúng ta đứng thứ 3 với trung bình 56,2 gói mì/người/năm, chỉ sau Hàn Quốc và Indonesia. Ở “công xưởng của thế giới”, Trung Quốc, mỗi năm người ta chỉ ăn trung bình hơn 36 gói mì.

Nhưng nếu xét đến tỷ lệ tăng trong nhóm có “truyền thống ăn mì” (không tính đến nhiều nước Âu Mỹ hay Ấn Độ mới được khai phá về món ăn này) thì Việt Nam có tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp trong tiêu thụ: từ năm 2008 đến 2012, lượng tiêu thụ của chúng ta tăng gần 24%, tương đương với gần 1 tỷ gói, tức là mỗi người ăn thêm khoảng hơn 10 gói trong giai đoạn này. 

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói (1)

Trong cùng thời gian, số lượng gói mì được tiêu thụ ở Trung Quốc và Indonesia chỉ tăng 3%, Hàn Quốc và Nhật Bản tăng 5%. Rõ ràng, có vấn đề gì đó ở đây. 

Trước khi xét đến khía cạnh kinh tế, mì ăn liền là một văn hóa. Nếu xét đến việc hai nền kinh tế mạnh và có GDP đầu người rất cao là Nhật Bản và Hàn Quốc cũng tiêu thụ mì khủng khiếp thì dễ nhìn ra khía cạnh này: văn hóa mì gắn với khẩu vị, phong cách sống, nếp sinh hoạt. Nhưng nó tất nhiên cũng là một thứ phản ánh chất lượng sống: mì ăn liền đã mang ý nghĩa ấy ngay từ khi nó ra đời, khi mà nước Nhật nghèo túng thời hậu Thế chiến 2 cần một món ăn rẻ tiền, nhanh chóng để phục vụ cho công cuộc tái thiết, và có thể được tạo ra từ lương thực mà người Mỹ viện trợ.
 
Cho đến hôm nay, nó vẫn được mô tả một cách đầy trang trọng là thứ “vũ khí chống lại nạn đói” trên toàn cầu.

Người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở bất kỳ đâu những tác hại dinh dưỡng của mì ăn liền. Rối loạn chức năng dạ dày (trẻ em ăn mì sẽ bị hạn chế hấp thu chất dinh dưỡng khác), thiếu chất dinh dưỡng, béo phì và tim mạch, lão hóa sớm và có thể dẫn đến ung thư.

Vậy thì ở một nền ẩm thực được ngưỡng mộ bậc nhất trên thế giới, nơi mà thứ được phương Tây gọi là “đồ ăn nhanh”, hoặc là “take-away” (thức ăn mang đi) có thể tìm thấy ở bất kỳ đâu dưới muôn vàn hình thức, nơi đã tạo ra “bánh mi” (một thứ đồ ăn nhanh tiêu biểu) và “pho” (một loại mì gạo) vốn nổi tiếng đến mức có trong từ điển Oxford, hoàn toàn có thể nói rằng dân Việt Nam đã PHẢI ăn thêm mì ăn liền với một lý do nào đó.

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói (2)

Rất khó để kết luận điều gì đang tạo ra tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp, đến 24% trong 4 năm của mì ăn liền. Nhưng có thể dễ dàng gắn nó với việc chất lượng sống của chúng ta đang đi xuống. 

Có thể nó gắn với cuộc suy thoái kinh tế. Những người lao động mất việc đầy rẫy, những bạn sinh viên khó kiếm việc làm thêm,… Dù sao thì, gạt bỏ yếu tố văn hóa khó đo lường, người ta ăn mì ăn liền mục đích đầu tiên là cho đỡ đói. Ăn nhiều mì hơn tức là ít nhiều, người ta đang đói hơn.

Có thể thực tế này cũng gắn với công cuộc đô thị hóa chóng mặt. Nhiều người bỗng buộc phải biến thành cư dân đô thị khi mà chưa hề được chuẩn bị cho điều đó: họ ăn mì vì vấn đề kinh tế, hay là vì áp lực của cuộc sống thành thị, họ làm việc đến tối mịt và về căn nhà thuê một mình. Có thể họ cũng từng có một mảnh vườn rau và gian bếp đun củi ở đâu đó.

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói (3)
Có thể đơn thuần là vấn đề thiếu giáo dục/ nhận thức về dinh dưỡng.

Và lạc quan tếu hơn, có khi nào tỷ lệ mì gói tăng nhanh chỉ bởi vì chúng ta đang nhậu nhiều hơn, những vắt mì được cho vào nồi lẩu đang nhiều lên?

Dù thế nào, có một Thực Tế Mì Ăn Liền mà Việt Nam đang phải đối mặt. Thực tế ấy là nước ta đang ăn thêm nhiều một thứ ít chất dinh dưỡng (thậm chí độc hại) hơn bất kỳ nước nào, và bạn hãy nghĩ đến nó khi đun nước ăn mì, bên cạnh những báo cáo lạc quan nào khác về tăng trưởng. 

Thực Tế Mì Ăn Liền xứng đáng được coi là một vấn đề quốc gia. Và cho dù bạn thực sự yêu mì gói, vấn đề ấy cũng cần được giải quyết.


Theo Đức Hoàng
Depplus

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp'

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp


Chẳng mấy thứ trông chán hơn một gói mì ăn liền. Là lựa chọn sau cùng cho một bữa tối, được mua với số lượng lớn và sẵn sàng phục vụ chỉ sau vài phút, mì ăn liền là loại thực phẩm rẻ tiền và chẳng đáng quan tâm. 

Tuy vậy, sự thực là, những đặc tính vô cùng khiêm nhường ấy lại khiến mì ăn liền trở thành một nguồn lực gây ảnh hưởng đến tất cả mọi người trên thế giới.

Chuyện mì ăn liền đi đâu cũng thấy, từ các trường đại học giàu có nhất đến những thành thị nghèo nhất ở các quốc gia đang phát triển, đã hấp dẫn ba nhà nhân chủng học Deborah Gewertz của Đại học Amherst, Frederick Errington của Đại học Trinity, và Tatsuro Fujikura tại Đại học Kyoto. 

Họ quyết định tìm hiểu sự xuất hiện của món ăn này ở Nhật Bản, Hoa Kỳ và New Guinea, tầm quan trọng của mức giá, tính cơ động và bảo quản khô của mì ăn liền. Tất cả được ghi lại trong cuốn sách "Những câu chuyện về mì ăn liền: Sự lên ngôi của một ngành công nghiệp thực phẩm trong thế kỷ hai mốt" (The Noodle Narratives: The Global Rise of an Industrial Food into the Twenty-First Century).

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp' (1)
Có khoảng 100 tỷ gói/cốc mì đã được bán ra trong năm 2012, tức là bình quân mỗi người sẽ ăn 14 gói mì/năm.

Rõ ràng, sự hiện diện khủng khiếp của mì ăn liền gần như rải kín khắp nơi trên thế giới. Năm 2012, theo Hiệp hội Mì ăn liền Thế giới, đã có khoảng 100 tỷ gói/cốc mì đã được bán ra, tức là bình quân mỗi người sẽ ăn 14 gói mì/năm. Các gia vị chua cay bên trong gói mì cũng được gia giảm phù hợp với khẩu vị địa phương từ châu Á cho đến Mexico. 

Một khảo sát tiến hành ở khu dân cư ở Tokyo cho thấy, mì ăn liền đã đánh bại máy vi tính, karaoke và máy nghe nhạc Walkman để trở thành phát minh có ảnh hưởng nhất của Nhật Bản trong thế kỷ 20.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy mì ăn liền có vai trò phức tạp vượt xa khỏi mục đích tìm hiểu ban đầu của họ. Mì ăn liền, theo họ lập luận, là một bộ phận của "vốn lương thực", nó cho phép đói nghèo tồn tại và tạo ra một tầng lớp người tiêu dùng ở dưới đáy của kim tự tháp kinh tế. Đồng thời, mì ăn liền cũng có lợi ích, là cung cấp dưỡng chất giá rẻ cho người nghèo.

Liệu rằng Koki Ando, con trai của người phát minh ra mì ăn liền, có đúng khi tuyên bố rằng sản phẩm này có thể cứu cả thế giới tại Hội nghị thượng đỉnh Mì ăn liền năm 2010? Để tìm câu trả lời, phóng viên tờ Boston Global đã phỏng vấn bà Deborah Gewertz (1 trong 3 nhà nhân chủng học đã tham gia nghiên cứu).

Hỏi: Mì ăn liền có được xem là một "phát minh", thưa bà?

Bà Gewwertz: Người Nhật có món mì ramen truyền thống từ lâu đời. Chúng ta đang nói về món mì ramen thực sự, với các thành phần phức tạp và nước súp được chế biến kỳ công và mất nhiều thời gian với tất cả những nguyên liệu và công thức tinh túy nhất. 

Vào năm 1958, sau chiến tranh, nhiều người đã bị đói... Đây là một phần của huyền thoại được kể trong viện bảo tàng: 

"Một người đàn ông tên Momofuku Ando, khi chứng kiến cảnh những người đồng hương của mình bị đói và ông muốn giúp đỡ họ bằng cách tạo ra một món ăn không tốn kém, bảo quản được lâu, ngon miệng nhưng không mất thời gian chuẩn bị... 

Ông nhớ lại các nguyên tắc làm món tempura*, và sử dụng nguyên tắc chế biến và chiên nhanh của món ăn này để tạo ra món mì ăn liền của mình. Việc cần làm là khiến mì trở nên khô và xốp, bằng cách cho chúng chao qua một bể dầu. Kết quả là mì được hút khô nước rất nhanh.

Ông Ando đã thử nghiệm không mệt mỏi và sau đó bắt đầu kinh doanh món mì ăn liền đầu tiên trên thế giới".

* Tempura là một món ẩm thực của Nhật Bản gồm các loại hải sản, rau, củ tẩm bột mì rán ngập trong dầu. Bột để làm tempura là thứ hỗn hợp nhão của bột mì, lòng trứng gà và nước nguội. Dầu để rán là hỗn hợp dầu ăn thông thường với dầu vừng.


Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp' (2)
Momofuku Ando - "Cha đẻ" của món mì ăn liền.

Tại sao bà quyết định nghiên cứu về mì ăn liền?

Mì ăn liền xuất hiện rất nhiều trong ngành nhân chủng học của chúng tôi. Có thể nói, rất nhiều người dân ở Papua New Guinea, nơi chúng tôi (bà Deborah Gewertz - Đại học Amherst và ông Frederick Errington - Đại học Trinity) đang làm việc từ những năm 60, 70, họ đã, đang ăn mì ăn liền và nói chuyện về mì ăn liền. Có người từng nói: "Nếu không còn mì gói, sẽ chẳng còn chút hi vọng nào".

Điều gì khiến mì ăn liền khác với bất kỳ loại thực phẩm sản xuất hàng loạt nào khác vậy?

Điều thú vị nhất mà chúng tôi nhận thấy là gần như tất cả mọi người trên thế giới đều đã ăn mì ăn liền, vì các lí do khác nhau và với các túi tiền khác nhau. Bởi vậy, trong một vài mối liên kết, mì ăn liền bỗng trở thành một câu chuyện toàn cầu về cách con người chúng ta kết nối với nhau và khác biệt lẫn nhau.

Ý nghĩa của mì ăn liền trên các thị trường khác nhau (mà bà nghiên cứu) có sự khác biệt ra sao?

Ở Nhật Bản, thị trường mì ăn liền đã bị bão hòa. Người Nhật luôn có sẵn món mì ramen thực sự của họ. Vậy mà mỗi năm vẫn có đến 600 chủng loại mì ăn liền mới với lớp vỏ ngoài hào nhoáng được tung ra và giới thiệu vào thị trường này. 

Còn Mỹ là một thị trường cơ bản, một thị trường hàng hóa. Người ta mua mì ăn liền vì chúng có giá rẻ. Có thể kể đến 3 phân khúc ở thị trường mì ăn liền Mỹ.

Phân khúc lớn nhất ở thị trường này dành cho những người nghèo. Họ là những người làm việc sau những quầy bán đồ ăn nhanh và hưởng lương theo giờ. Một người từng trả lời phỏng vấn, rằng ông ta ăn mì gói vào bữa sáng và bữa trưa, nhưng không bao giờ dùng để ăn tối, bởi vì nếu vậy thì thật đáng buồn.

Phân khúc thứ hai là các tù nhân. Họ mua mì ăn liền tại kho lương và trộn chúng với các thành phần hỗn độn khác, từ bánh ngọt, bơ đậu phộng và mứt, để thành phiên bản mì ăn liền có hương vị của tự do. Họ mua chúng vì họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn với món ăn này.

Và phân khúc thứ ba, đương nhiên rồi, các sinh viên đại học... Họ không được nấu nướng trong phòng ký túc và bởi vậy mì gói trở thành món ăn thường ngày không thể thiếu. "Chúng tôi không được phép nấu nướng trong phòng nên chúng tôi úp mì ăn liền và ngắm hoàng hôn. Dường như tôi sống cùng với mì gói".

Và ở Papua New Guinea, mì ăn liền đã đổ bộ từ những năm 80. Thời điểm đó, nhiều người dân đã rời làng mạc để lên thành phố, và rất nhiều trong số đó trở thành những người đói rách. Họ đã không chỉ phụ thuộc vào mì ăn liền, mà họ còn thực sự thích chúng vì lý do khác: Ai cũng có thể bước vào cửa hàng và mua mì gói. Mọi người thực sự thích được trải nghiệm lựa chọn rất nhiều sản phẩm tùy chọn. Điều này đã thay đổi người dân Papua New Guinea, biến họ trở thành những người tiêu dùng.

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp' (3)
Cuốn sách "Kho báu ở dưới đáy của Kim tự tháp" - C.K. Prahalad: 
"Nếu bạn có thể tìm thấy các sản phẩm dành cho những người ở "dưới đáy kim tự tháp", bạn có thể không kiếm được nhiều tiền từ một vài người, nhưng bạn sẽ kiếm được rất nhiều tiền từ tất cả những người đó". 

Bà nói rằng những người "ở dưới đáy kim tự tháp" được thiết kế là phân khúc thị trường mục tiêu của các nhà sản xuất mì ăn liền. Bà có thể giải thích được chứ?

C.K. Prahalad đã viết một cuốn sách rất có ảnh hưởng mang tên "Kho báu ở dưới đáy của Kim tự tháp" (The Fortune at the Bottom of the Pyramid).

Ông ấy cho rằng, mặc dù người nghèo có rất ít tiền, nhưng tiền của tất cả người nghèo lại là con số lớn. Do đó, nếu bạn có thể tìm thấy các sản phẩm dành cho những người ở "dưới đáy kim tự tháp", bạn có thể không kiếm được nhiều tiền từ một vài người, nhưng bạn sẽ kiếm được rất nhiều tiền từ tất cả những người đó. 

Nếu bạn có thể bán hàng cho những người ở dưới đáy kim tự tháp và cho họ quyền trải nghiệm, lựa chọn và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, họ sẽ làm dịch chuyển nền kinh tế... Và kim tự tháp cũng sẽ dịch chuyển và tiến hóa lên.

Chúng ta thường có xu hướng nghĩ rằng mì ăn liền nằm ở "dưới đáy kim tự tháp", nhưng hãy thay đổi cách nhìn nhận vấn đề rằng: càng nhiều đồ ăn đến từ những nơi khác, càng ít đảm bảo an toàn. 

Vậy tương lại của mì ăn liền là gì?

Tôi nghĩ là mì gói sẽ không thể dừng lại... Có thể thấy rằng những người rất, rất, rất nghèo luôn cần nguồn năng lượng để sống. 

Chúng tôi không cho rằng mì ăn liền sẽ cứu thế giới với bất cứ ý nghĩa nào, nhưng chúng tôi có thể kết luận, một cách khá miễn cưỡng, mì ăn liền mang nhiều điều tốt hơn là có hại đến những người nghèo. Chính xác thì chúng không nuôi dưỡng họ, mà là giúp họ tồn tại.

Kiến Anh
Theo Trí Thức Trẻ/The Boston Global

More U.S. Profits Parked Abroad, Saving on Taxes

Updated March 10, 2013 8:15 p.m. ET


U.S. companies are making record profits. And more of the money is staying offshore, and lightly taxed.

Across the Sea

See the total profits held offshore by 60 big U.S. companies in 2012 and 2011.

Related Video

MarketWatch's Jim Jelter discusses a report, released by the Office of Revenue Analysis of the Government of Washington, D.C., that reviewed the estimated property, sales, auto and income taxes a family paid in 2011 in the largest city in each state. (Photo: Getty Images)
A Wall Street Journal analysis of 60 big U.S. companies found that, together, they parked a total of $166 billion offshore last year. That shielded more than 40% of their annual profits from U.S. taxes, though it left the money off-limits for paying dividends, buying back shares or making investments in the U.S. The 60 companies were chosen for the analysis because each of them had held at least $5 billion offshore in 2011.
The practice is a result of U.S. tax rules that create incentives for companies to maximize the earnings, and holdings, of foreign subsidiaries. The law generally allows companies to not record or pay taxes on profits earned by overseas subsidiaries if the money isn't brought back to the U.S.
Big American companies are booking more of their sales in faster-growing foreign markets. But companies also are moving more of their earnings overseas by assigning valuable patents and licenses to foreign units.
Untaxed foreign earnings are part of a contentious debate over U.S. fiscal policy and tax code. The current system attracts criticism from many points of view. Business groups want the U.S. to tax profit based on where it is generated, as many countries do, rather than globally, as the U.S. does now. Moreover, they point out, tax rates are higher in the U.S. than in many other nations, putting American companies at a disadvantage.
Others say that the growing cash hoards often are the result of sophisticated corporate maneuvers to shift profits to low-tax countries.
Within the group of 60 companies, the Journal found 10 that parked more earnings offshore last year than they generated for their bottom lines. They include Abbott Laboratories, whose store of untaxed overseas earnings rose by $8.1 billion, to $40 billion. The increase exceeded the pharmaceutical maker's net income of $6 billion, which was weighed down by a $1.4 billion charge related to early repayment of debt. Including that charge, Abbott reported a pretax loss on its U.S. operations.
An Abbott spokesman declined to comment.
Honeywell International Inc. HON +1.51% boosted its store of untaxed earnings held by its offshore subsidiaries and earmarked for foreign investment by $3.5 billion last year to $11.6 billion, a rise equal to the industrial conglomerate's annual profit, excluding a pension adjustment. The company said the increase resulted from $2.1 billion of pretax earnings from its foreign subsidiaries and changes in estimates.
Chief Financial Officer Dave Anderson says Honeywell needs to invest outside the U.S. to fuel foreign sales, which accounted for 54% of Honeywell's revenue last year.
He also says the tax code is part of the equation. "The anachronistic tax system that we have penalizes companies for their success outside of the U.S.," Mr. Anderson says.
The amount of money at stake is significant, particularly when the U.S. budget deficit is high on the political agenda. Just 19 of the 60 companies in the Journal's survey disclose the tax hit they could face if they brought the money back to their U.S. parent. Those companies say they might have to pay $98 billion in additional tax—more than the $85 billion in automatic-spending cuts triggered this month after the White House and Congress couldn't agree on an alternative.
The Joint Committee on Taxation estimates that changing the law to fully tax overseas earnings would generate an additional $42 billion for the Treasury this year alone. Congress enacted a temporary tax holiday in 2004, prompting companies to repatriate $312 billion in foreign earnings. The law was intended to stimulate the U.S. economy, but studies found that few jobs were created and most of the money was used to repurchase shares and pay dividends. Another such holiday is considered unlikely in the next few years.
The Journal's survey of new regulatory filings found that the total earnings held by the 60 companies' foreign subsidiaries rose 15%, to $1.3 trillion, from $1.13 trillion a year earlier.
The trend was most pronounced among the 26 technology and health-care companies in the Journal survey. Collectively, they parked $120 billion in foreign units last year, accounting for nearly three-quarters of the total. At some of these companies, foreign subsidiaries hold almost all the company's cash. Johnson & Johnson JNJ +1.21% says its foreign subsidiaries held $14.8 billion in cash and cash equivalents as of Dec. 30, out of a total of $14.9 billion.
Not all of the earnings parked offshore are in cash. Some of the money is used to build plants and buy equipment overseas. In a paper last year, Wharton School accounting professor Jennifer Blouin and two co-authors estimated that 43% of the offshore earnings were held in cash.
A Senate committee last year found that many tech and health-care companies have shifted intellectual property—such as patent and marketing rights—to subsidiaries in low-tax countries. The companies then record sales and profits from these lower-tax countries, which reduces their tax payments.
"There are opportunities to basically wipe away your tax on your intellectual property," says Ms. Blouin, the Wharton professor.
Software maker Microsoft Corp. MSFT +0.93% boosted the holdings of its foreign subsidiaries by $16 billion in the fiscal year ended June 30, 2012, to $60.8 billion, the third-largest holding in the Journal survey. The growth in Microsoft's overseas holdings nearly equaled its net income for the year of $17 billion—in part because Microsoft said its foreign operations accounted for 93% of its pretax profit last year.
In its report, the Senate committee said Microsoft had shifted intellectual property to subsidiaries in Singapore, Ireland and Puerto Rico, to avoid roughly $4 billion in U.S. taxes in 2011. Licensing rights, and revenue, sometimes traveled through more than one subsidiary to minimize the tax bill.
"Microsoft complies with the tax rules in each jurisdiction in which it operates and pays billions of dollars in U.S. federal, state, local and foreign taxes each year," Bill Sample, Microsoft's corporate vice president for world-wide taxation, told the Senate committee in September.
A Microsoft spokesman declined to comment further.
Oracle Corp. ORCL +1.65% reported holding $20.9 billion in its foreign subsidiaries as of May 31, 2012, up 30% from a year earlier. Oracle lowered its tax rate last year to 23%, from 25.1% in 2011, raising its bottom line by $272 million.
In a securities filing, Oracle said the tax rate fell in part because it "increased the number of foreign subsidiaries" in low-tax countries; the filing listed four Irish subsidiaries that weren't listed the prior year. Oracle said it expects the new subsidiaries to help it maintain a lower tax rate. An Oracle spokeswoman didn't respond to requests for comment.
Abbott runs manufacturing plants in more than a dozen foreign countries, plus Puerto Rico, and generated 58% of its $40 billion in 2012 revenue outside the U.S. In a securities filing, Abbott estimated that lower tax rates on its foreign operations cut its U.S. tax bill by $1.6 billion last year.
A big Abbott subsidiary in Ireland, Abbott Laboratories Vascular Enterprises Ltd., reported profit of €1.1 billion for 2011 ($1.43 billion), the latest figures available, and paid no Irish tax, because it is incorporated in Bermuda, according to an Irish corporate filing.
Some companies are accumulating large sums of earnings that they say will remain outside the U.S. General Electric Co. GE +1.27% reported $108 billion held offshore at the end of last year, up from $102 billion a year earlier; GE says most of that is invested in active business operations such as plants and research centers. At Pfizer Inc.,PFE +0.61% the total rose to $73 billion, from $63 billion.
The swelling totals have sparked friction at companies such as Apple Inc., AAPL +0.39%where investors want executives to distribute more cash through dividends and share repurchases.
Overseas balances have grown in part because U.S. multinational companies are paying less tax on their overseas operations. Offshore subsidiaries of U.S. companies paid an average 14% tax rate in 2008, according to the most recent statistics from the Internal Revenue Service, down from 16% in 2004.
Corporate filings offer a glimpse of the low rates companies pay outside the U.S. Apple said it held $40.4 billion in untaxed earnings outside the U.S. as of Sept. 29, 2012. Apple estimated that it would owe $13.8 billion in tax if it brought that money back to the U.S. That is a 34% tax rate, just shy of the federal 35% rate. Since foreign income taxes are creditable on U.S. taxes, that means Apple has paid less than 5% tax on those earnings to date, says Ms. Blouin, the Wharton professor.

Kinh Đô nhảy vào làm mì gói: Thêm bát có nát mâm?

 Kinh Đô nhảy vào làm mì gói: Thêm bát có nát mâm?




Dù đã có 50 doanh nghiệp (DN) sản xuất nhưng thị trường hơn 5 tỷ gói mì mỗi năm với mức tăng trưởng 15-20% vẫn luôn thu hút dòng tiền đầu tư. Sự xuất hiện của "tay to" Kinh Đô là một minh chứng của xu hướng này.

Kinh Đô: Giữ bánh, thêm mì
Tại đại hội cổ đông 2013, lãnh đạo Công ty Kinh Đô tuyên bố sẽ tham gia lĩnh vực mỳ gói, dầu ăn và sữa. Đây là giải pháp quan trọng để Công ty tăng trưởng trên 20% một năm. Chia sẻ với báo giới, ông Trần Lệ Nguyên, Tổng giám đốc Công ty Kinh Đô, cho biết, Công ty đang lên kế hoạch chi tiết và nếu không có gì thay đổi, vào tháng 6 tới, mì gói Kinh Đô sẽ có mặt trên thị trường.
Đến quý IV năm nay, dầu ăn thương hiệu Kinh Đô cũng sẽ xuất hiện. Việc tham gia vào hai lĩnh vực này sẽ giúp Công ty đạt doanh thu lên 6.000 tỷ đồng trong năm nay.
Do ra sau nên Kinh Đô sẽ không cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ tầm cỡ, mà sẽ nhắm vào những phân khúc nhỏ hơn. Cùng với việc sản xuất, Kinh Đô củng cố hệ thống phân phối, từ kênh phân phối thực phẩm (bánh khô và bánh tươi) đến kênh phân phối lạnh, với 300 nhà phân phối và 200.000 điểm bán lẻ.
"Hiện nay, thị trường mì gói miền Nam trị giá khoảng 2 tỷ USD/năm, do vậy Kinh Đô vẫn còn nhiều không gian để phát triển và chúng tôi rất tự tin sẽ thành công với các dự án này", ông Trần Lệ Nguyên chia sẻ.
Sự "lấn sân" của Kinh Đô không khiến các DN khác ngạc nhiên bởi sức hút của thị trường này quá lớn. Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội Mì ăn liềnThế giới, Việt Nam được xếp vị trí thứ tư trên thế giới (sau Trung Quốc, Indonesia và Nhật Bản) về tiêu thụ mì gói. Nếu như năm 2009, Việt Nam tiêu thụ khoảng 4,3 tỷ gói mì thì đến năm 2012 đã tăng lên 5,1 tỷ gói và sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Trên thực tế, doanh thu của các DN mì gói liên tục tăng 10-30% mỗi năm. Cụ thể, năm 2011, doanh thu của Acecook tăng 30%. Thương hiệu mì Shin Ramyun của Công ty Nong Shim (Hàn Quốc) tăng từ 27-35% mỗi năm, kể từ năm 2005 đến nay.
Sản lượng tiêu thụ mì ăn liền tại thị trường Việt Nam luôn duy trì tốc độ tăng trưởng đều đặn trong những năm gần đây đã thu hút sự tham gia của nhiều DN. Mặc dù Việt Nam đã có khoảng 50 DN mì ăn liền, sản xuất gần 50 tỷ gói một năm nhưng điều này không cản bước các nhà đầu tư.
Trước Kinh Đô, tháng 7/2012, Tập đoàn mì ăn liền Nissin Foods cũng đã nhảy vào thị trường Việt Nam bằng việc khai trương nhà máy sản xuất mì ăn liền tại Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore II (Bình Dương) với kinh phí đầu tư lên đến 41 triệu USD. Không sản xuất mì như các DN đi trước, Nissin chọn loại mì đặc biệt không chiên.
Sự xuất hiện Nissin Foods cũng khiến các thương hiệu khác ngán ngại. Bởi đây là thương hiệu mì bán chạy số 1 tại Nhật. Tập đoàn đã có 47 nhà máy sản xuất ở 15 quốc gia và tạo ra hơn 1.200 loại mì gói cho thị trường toàn cầu.
Phòng thủ và soán ngôi
Trước sự xuất hiện của những thương hiệu mới, các DN ngành mì gói phải tăng tốc để giữ thị phần. Năm 2012, sau khi Nissin xuất hiện, Vina Acecook đã tăng vốn thêm 10 triệu USD và đưa vào hoạt động hai nhà máy sản xuất mì ăn liền quy mô hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á tại TP.HCM.
Cùng với dây chuyền sản xuất mới, Vina Acecook cũng giới thiệu thương hiệu mì không chiên Mikochi, mì Udon Sưki Sưki. Masan do đầu tư vào nhiều lĩnh vực mới như cà phê, nước uống nên lĩnh vực mì gói có vẻ chựng lại. Tuy nhiên, thương hiệu này vẫn liên tục "dội bom khuyến mãi" và đẩy mạnh phân phối vào các thị trường, đặc biệt là thị trường nông thôn.
Các nghiên cứu cho thấy, dù thị trường có 50 DN sản xuất nhưng chủ yếu tập trung vào các "ông lớn" như Vina Acecook, Asia Foods và Masan. Trong đó, các sản phẩm của Vina Acecook (100% vốn Nhật Bản) đang dẫn đầu với khoảng 50% thị phần.
Tiếp theo là Asia Foods (DN trong nước) chiếm hơn 20% thị phần và thứ ba là Massan. Còn lại một thị phần rất nhỏ chia đều cho các DN cả mới lẫn cũ, trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, ở nhóm này, vẫn có những DN tiềm năng như Uni-President, Miliket...
Ông Trần Bảo Minh, người tạo dựng thương hiệu Mì Gấu Đỏ, từng cho rằng, với mì gói, công nghệ sản xuất của các công ty gần như giống nhau và sự khác biệt được tạo ra chủ yếu bởi chủng loại, giá cả và các chiêu thức quảng cáo chứ không phải ở chính sản phẩm.
Và năm nay, DN mì gói không cạnh tranh về sản phẩm mà dồn lực cho quảng cáo. Hiện nay, ba "ông lớn" Vina Acecook, Asia Foods và Masan vẫn liên tục chiếm các "giờ vàng truyền hình". Tuy nhiên, bên cạnh các thương hiệu này, kênh giờ vàng truyền hình còn có sự "án ngữ" của tân binh Nissin.
Chưa có thống kê về kinh phí mà các DN này đầu tư cho truyền thông nhưng theo đại diện một công ty nghiên cứu thị trường là không hề nhỏ. Bởi, Vina Acecook vừa kết thúc TVC mì Udon Sưki Sưki thì hình ảnh quảng cáo mì không chiên Mikochi, Hảo Hảo xuất hiện. Masan cũng liên tục tung Omachi trên truyền hình. Xen lãn vào những TVC của những thương hiệu này là những thước phim về Nissin.
Theo các nhà phân tích, dù thị trường có cạnh tranh cỡ nào thì các DN cũng khó "soán ngôi" của Acecook vì DN này đang sở hữu trên 700 nhà phân phối, phủ kín 100% thị trường Việt Nam. Với 11 nhà máy sản xuất, mỗi năm công ty này thu về hơn 4.500 tỷ đồng.
Theo Minh Hào
Doanh nhân Sài Gòn

Các đại gia công nghệ Mỹ nắm giữ hàng tấn tiền mặt để làm gì?

Các đại gia công nghệ Mỹ nắm giữ hàng tấn tiền mặt để làm gì?

















Những công ty công nghệ này đổ hơn 100 tỷ đô vào trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ, theo một báo cáo tuần trước của Cục điều tra Báo chí, một tổ chức phi lợi nhuận tư nhân ở London. Theo luật thuế của Hoa Kỳ, số lượng lớn tiền mặt này đang được nắm giữ tại các công ty con ở nước ngoài và nhiều khả năng là số tiền mặt đó được dùng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ.

Nhóm điều tra đã sử dụng dữ liệu từ những nguồn báo cáo hàng năm mà các công ty này được yêu cầu gửi tới Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái. Tổng cộng, Apple, Microsoft, Google và Cisco đang có 255 tỷ USD tiền mặt ở nước ngoài (80% tổng tiền mà các công ty này nắm giữ).

Các đại gia công nghệ Mỹ nắm giữ hàng tấn tiền mặt để làm gì? (1)
Tiền tại các công ty con ở nước ngoài (màu xám) và tổng tiền (toàn bộ cột ngang) của 4 công ty công nghệ (tỷ USD).

Nếu những doanh nghiệp này đang mua nợ chính phủ Hoa Kỳ bằng số tiền đó, thì những người dân đóng thuế cho chính phủ đang phải gánh nợ cho chính những công ty mà họ đã bỏ hàng tỷ đô để mua iPad, các phần mềm và thiết bị định tuyến.

"Điều đó có nghĩa là những người nộp thuế ở Hoa Kỳ đang trợ giúp đắc lực cho các công ty công nghệ sở tại né thuế", ông Nick Mathiason, tác giả báo cáo của Cục Điều tra Báo chí cho biết.

Tuy nhiên theo các chuyên gia thuế quốc tế, vấn đề này chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

"Các công ty Hoa Kỳ có thể trì hoãn việc nộp thuế thu nhập bằng cách duy trì thu nhập ở nước ngoài và tiếp tục trì hoãn bằng cách mua Trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ", Michael Knoll , một giáo sư tại Đại học Luật Pennsylvania cho biết.

Lãi suất trái phiếu sẽ hạ khi các nhà đầu tư đổ tiền mua, nhờ đó việc mua trái phiếu có thể giúp neo lãi suất ở mức thấp.

Một số người lý luận rằng mức thuế suất 35% đối với thu nhập từ nước ngoài nên hạ xuống để khuyến khích các công ty Hoa Kỳ đem tiền nước. Số khác lại cho rằng Quốc hội nên quy định mức phạt với các công ty chuyển lợi nhuận ra khỏi biên giới Hoa Kỳ. 

Các đại gia công nghệ Mỹ nắm giữ hàng tấn tiền mặt để làm gì? (2)

Những gì mà Apple , Microsoft, Google và Cisco đang làm là hoàn toàn hợp pháp. 

Phát ngôn viên của Apple cho biết, CEO Tim Cook đã nói với Thượng viện Hoa Kỳ hồi năm ngoái rằng, "với tinh thần thượng tôn pháp luật", Apple đã nộp thuế cho Liên bang lên đến 6 tỷ USD năm 2012.

Trả lời CNNMoney, Google nói rằng "nếu các chính trị gia không thích điều luật nào, họ có đủ quyền lực để thay đổi điều luật đó".

Đại diện của Microsoft lại đưa ra lời phát ngôn năm 2012 của ông Bill Sample, phó chủ tịch phụ trách thuế toàn cầu. "Chúng tôi tin rằng chính phủ Mỹ nên cải cách các quy định về thuế quan để hỗ trợ các doanh nghiệp Hoa Kỳ tiềm năng có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế và đầu tư hơn nữa tại chính quốc", vị này nói.

Scott Gerber, phát ngôn viên của Cisco cho biết "phần còn lại của thế giới đang khuyến khích các doanh nghiệp mang thu nhập từ nước ngoài hồi hương với thuế suất rất thấp" và Mỹ "nên tạo ra sân chơi bình đẳng, hiện đại hóa hệ thống và tạo nên thị trường cạnh tranh hơn với phần còn lại của thế giới".

Tuy nhiên tác giả báo cáo Nick Mathiason nghĩ rằng các công ty đang bắt tay thỏa thuận với nhau.

"Đây là bằng chứng rõ ràng về vai trò của hệ thống thuế trong việc cải thiện các nhu cầu thiết yếu mà chính phủ đang đầu tư kinh phí gồm dịch vụ công, cơ sở hạ tầng và đầu tư sản xuất", ông nói. 

"Tôi nghĩ rằng người dân Hoa Kỳ sẽ bị sốc khi biết chính phủ của mình đang thanh toán hàng trăm tỷ USD tiền lãi trái phiếu cho các đại gia công nghệ khổng lồ, những tổ chức đang nắm giữ lượng lớn tiền mặt ở nước ngoài được tạo ra từ thuế".

Đại gia - chân dài: Chuẩn mực đáng lo của giới thượng lưu mới


Đại gia - chân dài: Chuẩn mực đáng lo của giới thượng lưu mới

"Trong khi những cuộc mua bán dâm trá hình cao cấp của các đại gia, chân dài, quan chức... được chấp nhận như một chuẩn mực của giới thượng lưu mới, thì người ta kỳ thị, lên án, xua đuổi, đăng lên mặt báo ảnh các cô gái bán dâm bình dân bị gom túm tụm lại như những kẻ ăn cắp vặt. " – TS Đặng Hoàng Giang, Phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Cộng đồng và Nghiên cứu Phát triển (CECODES), chia sẻ. 

Những năm gần đây, chính sách của Việt Nam đối với quản lý hoạt động mua bán dâm đã có nhiều tiến bộ, tư duy quản lý mại dâm cũng đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, hợp pháp hoá mại dâm ở Việt Nam vẫn còn đang là một đề tài gây nhiều tranh cãi. 

Nghề mại dâm được coi là một trong những nghề cổ xưa nhất của xã hội. Ngay cả ở những xã hội nghiêm khắc nhất, mại dâm vẫn tồn tại. Vậy câu chuyện quản lý mại dâm nên được nhìn nhận dưới góc độ nào, theo anh?

Chúng ta nên nhìn nhận mại dâm trên hai phạm trù: Thứ nhất là phạm trù đạo đức, thứ hai là phạm trù quản lý xã hội. Trên khía cạnh đạo đức, nhiều người phản đối mại dâm vì cho rằng tình dục phải luôn gắn với tình yêu, nó là cái chỉ có thể trao tặng nhau, chứ không thể đem ra mua bán được. Rằng khi mua bán tình dục thì chúng ta chỉ còn lại phần “con”, chứ không còn phần “người” nữa. 

Quan điểm này rất lãng mạn, nhưng đáng tiếc nó không thực tế. Đòi hỏi tình dục phải gắn liền với tình yêu thì cũng giống như đòi hỏi hôn nhân luôn phải gắn với tình yêu vậy. Nếu bắt hôn nhân phải luôn đi cùng tình yêu thì có lẽ phải giải thể hơn nửa các cặp vợ chồng hiện nay. Rồi nếu lại bắt là hôn nhân phải đi kèm với tình dục, thì lại phải giải thể thêm một nửa trong số những hôn nhân còn lại.

Khía cạnh đạo đức của mại dâm hiện nay không còn là đề tài để tranh cãi ở phần lớn các nước - người trưởng thành và không bị ép buộc thì có quyền tự chủ về thân thể, và có lựa chọn cá nhân. Điều mà các quốc gia quan tâm hơn là các hệ luỵ xã hội như chuyện bóc lột hay buôn bán người, các bệnh tình dục, hay nạn bạo hành. Đây là những vấn đề hay đi kèm với mại dâm. Làm thế nào để giải quyết được chúng?

Câu hỏi này tương đối phức tạp, và các quốc gia khác nhau đi theo các mô hình khác nhau. Ở Đức, Hà Lan, hay Singapore, là cho phép hoàn toàn, ở đó những người bán dâm được công khai, có thẻ hành nghề, trả thuế, được bảo hiểm y tế, được lập hội đoàn… Có nơi cấm hoàn toàn, như ở Mỹ, Trung Quốc, hay Nga, đi kèm là xử phạt hành chính hay cho vào trại lao động như Việt Nam đã làm trong quá khứ. 

Giữa hai cực đó thì còn có rất nhiều sắc thái khác nhau. Có quốc gia như Anh thì cho phép mại dâm nhưng không cho phép các hoạt động môi giới, lập nhà chứa, để hạn chế việc kiếm lợi nhuận trên lưng người bán dâm. (Nhà chứa được định nghĩa là một nơi có hai hoặc nhiều hơn người hoạt động bán dâm). Thuỵ Điển, Na Uy và Iceland lại đi theo mô hình coi hành động bán dâm là không phạm pháp, nhưng mua dâm thì có - khách hàng, chứ không phải người bán dâm, là người bị coi là phạm tội. 

Thực tế, không có một mô hình nào tối ưu có thể áp dụng cho mọi quốc gia. Mỗi nước đều phải thử và tìm ra con đường đi riêng của mình, và cần luôn theo dõi, khảo sát, đánh giá tác động để điều chỉnh.

Những năm gần đây, mại dâm đồng tính nam gia tăng nhanh tại Việt Nam, đặc biệt tại các đô thị lớn. Theo anh, nguyên nhân của tình trạng này là do đâu? Liệu việc thừa nhận quyền được kết hôn của người đồng tính có giảm được hiện trạng này hay không?

Theo một khảo sát của Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội năm 2012 thì có tới 14% người bán dâm nam chọn công việc này vì họ muốn thoả mãn nhu cầu tình dục của mình (Con số này chỉ là 1% ở người bán dâm nữ, ngược lại có tới 17% người bán dâm nữ đi vào con đường này do trục trặc trong quan hệ với gia đình). Qua đó, chúng ta có thể cho rằng nếu người đồng tính nam được công khai các quan hệ của mình, thậm chí được kết hôn, và không bị xã hội kỳ thị, thì con số 14% kia sẽ giảm xuống.

Một nhận xét khác là hồi đầu thế kỷ 20, tỷ lệ nam thanh niên Mỹ tìm tới gái bán dâm để có sinh hoạt tình dục khá cao, vì xã hội Mỹ hồi đó không chấp nhận tình dục trước hôn nhân. Sau này, khi xã hội cởi mở hơn, nhu cầu sinh hoạt với gái mại dâm của thanh niên mới lớn ít đi. Có thể hình dung là chuyện tương tự đang xảy ra với thanh niên nông thôn Việt Nam, nơi mà tình dục trước hôn nhân còn chưa phổ biến.

Đại gia - chân dài: Chuẩn mực đáng lo của giới thượng lưu mới (1)
"Điều quan trọng nhất là thay đổi thái độ trong dư luận".
TS Đặng Hoàng Giang, Phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Cộng đồng và Nghiên cứu Phát triển (CECODES)

Quay trở lại câu chuyện quản lý mại dâm, liệu mô hình nào phù hợp với Việt Nam?

Thực tiễn nhiều năm ở Việt Nam đã chỉ ra là cấm đoán, phạt tiền, bắt vào trại lao động là không hiệu quả. Không những thế, cấm đoán còn đẩy những người bán dâm vào bóng tối, họ không dám tới báo công an khi bị bạo hành, quịt tiền, bị bảo kê bóc lột, hay khi rơi vào một đường dây buôn người. Chính những bất cập này đã khiến một số nơi như Đà Nẵng hay TP Hồ Chí Minh đưa ra đề xuất thay đổi.  

Mô hình của Thuỵ Điển - coi người mua dâm, chứ không phải người bán dâm, là phạm pháp - theo tôi là không khả thi ở Việt Nam. Thật khó mà hình dung được là lực lượng công an sẽ công tâm và liêm chính làm chuyện này. Rồi người ta sẽ tuyên bố là ở Đồ Sơn không có người mua dâm, giống như họ đã tuyên bố là ở Đồ Sơn không có người bán dâm vậy.  

Năm ngoái, chính quyền thành phố Zurich, Thuỵ Sĩ, đã dùng tiền thuế của dân để dựng lên một số phòng bằng gỗ để người bán dâm có thể tiếp khách trong đó, miễn phí. Mỗi phòng có một poster khuyến cáo dùng bao cao su, một phòng tắm nhỏ, và một nút báo động để người bán dâm có thể báo cảnh sát khi cần.

Chúng ta chưa có điều kiện kinh tế để làm giống Thuỵ Sĩ, nhưng điều đầu tiên có thể thử nghiệm là bỏ các hình thức phạt hành chính, chấm dứt tình trạng chạy trốn, chui lủi của người bán dâm, khuyến khích họ tìm tới các nhà chức trách và công an khi có vấn đề. 

Ngoài ra, cho phép họ thành lập những nhóm, tổ, hỗ trợ lẫn nhau, tạo ra điều kiện làm việc an toàn hơn, ví dụ gây sức ép lên khách hàng trong việc dùng bao cao su. Thông qua các tổ chức Phi chính phủ (NGO) cung cấp tư vấn tâm lý, tạo điều kiện cho người bán dâm chuyển nghề nếu họ mong muốn, phát hiện và triệt phá các đường dây bảo kê và buôn bán người.

Để làm được những điều trên, điều quan trọng nhất là thay đổi thái độ trong dư luận.

Như vậy, câu chuyện cấm hay không cấm, hợp thức hay không hợp thức phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức chung của cả xã hội?

Chúng ta nên chấm dứt tình trạng đạo đức giả hiện nay trong xã hội. Ngày ngày dư luận và báo chí háo hức, say sưa theo dõi những câu chuyện của các đại gia và chân dài. Đại gia mà không có chân dài thì bị coi là không có đẳng cấp, chân dài mà không đi với đại gia thì bị coi là bất bình thường. 

Rồi việc các quan chức chu cấp nhà cửa, xe cộ, hàng hiệu, cho bồ nhí, vợ bé cũng được coi là hết sức bình thường. Trong khi những cuộc mua bán dâm trá hình ở mức cao cấp này được chấp nhận như một chuẩn mực của giới thượng lưu mới, thì người ta kỳ thị, lên án, xua đuổi, đăng lên mặt báo ảnh các cô gái bán dâm bình dân bị gom túm tụm lại như những kẻ ăn cắp vặt. 

Sự khác nhau giữa hai nhóm này chỉ là ở chỗ những người bán dâm cao cấp có nhiều “vốn cơ thể” hơn, do họ có điều kiện tiếp cận các dịch vụ spa, thẩm mỹ viện, cũng như đầu tư cho quần áo, trang sức, kiểu tóc… Nhóm này cũng có “vốn văn hóa” cao hơn, cho phép họ có khả năng di chuyển và giao tiếp trong môi trường khách sạn hay nhà hàng sang trọng. Những người bán dâm bình dân không có điều kiện để phát triển cả hai loại vốn này.   

Tương tự, ở Trung Quốc, các nhà nghiên cứu xã hội đưa ra tới 7 bậc khác nhau để phân loại đẳng cấp của những người bán dâm. Bậc một, cao nhất, là các vợ bé của các đại gia và quan chức. Bậc hai là các “vợ kèm”, những cô gái đi theo một khách hàng giàu có trong một thời gian nhất định, ví dụ trong một chuyến công tác, nhưng chưa lọt được vào bậc một. 

Ba bậc tiếp theo nằm trong ngành công nghiệp giải trí: những cô gái làm việc trong các karaoke, quán bar, khách sạn, tiệm massage v.v… Bậc sáu là những người bán dâm đứng đường, và bậc bảy là người bán dâm phục vụ người lao động nhập cư. Các vợ bé và “vợ kèm” được chu cấp bằng tiền tham nhũng, giống như ở Việt Nam, mà hai anh em nhà họ Dương là ví dụ nhãn tiền gần đây nhất. 

Ít ra thì những người bán dâm tự nguyện, dù hài lòng hay không với cuộc sống của mình, đều tự nhận rằng đó là lựa chọn của chính họ, và họ tự chịu trách nhiệm với bản thân, không đổ lỗi cho ai. 

Trong cuốn “Tình dục và công bằng xã hội”, giáo sư Martha Nussbaum của Đại học Chicago viết, “Tất cả chúng ta, trừ những người rất giàu có và những người thất nghiệp, đều kiếm tiền từ việc sự dụng cơ thể của mình. Giáo sư, công nhân, luật sư, ca sĩ opera, người bán dâm, bác sĩ, nhà làm luật - chúng ta đều làm những việc nhất định với những bộ phận thân thể của chúng ta, và nhận được thù lao qua đó. Có những người nhận được thù lao cao, có những người không, có những người làm chủ được điều kiện làm việc của mình, có những người không, có những người có nhiều lựa chọn trong công việc, có những người không. Và có những người bị xã hội coi rẻ, và có những người không.”

Việc một xã hội coi rẻ ai, và xu nịnh ai, nói lên rất nhiều về bản thân xã hội đó. 

Cảm ơn anh!

Theo Tuấn Ngọc
Một thế giới