Showing posts with label entrepreneur. Show all posts
Showing posts with label entrepreneur. Show all posts

Tuesday, 20 May 2014

5 chiến dịch marketing thành công nhờ yếu tố cảm xúc

17/05/2014 - 06:42

Hiện nay, cứ mỗi phút có 100 giờ quay phim được tải lên YouTube, mỗi ngày có hơn 4,75 tỷ nội dung được cập nhật qua Facebook và 500 triệu dòng tweet trên toàn thế giới.

5 chiến dịch marketing thành công nhờ yếu tố cảm xúc

Trong môi trường mạng xã hội đông đúc đó, Jonah Berger, giáo sư chuyên ngành Marketing của trường Wharton (Đại học Pennsylvania) cho rằng, vai trò của việc xây dựng nội dung marketing chính là gợi ra những câu chuyện để mọi người bàn tán với nhau.
"Bất kể điều gì tác động mạnh vào cảm xúc con người, làm họ vui nhộn, ngạc nhiên, phấn khích lẫn giận dữ, lo lắng thì đều khiến người ta chia sẻ chúng với mọi người. Cảm xúc là yếu tố chính dẫn dắt luồng thông tin truyền đi trên mạng xã hội" - Berger nhận xét. Và 5 chiến dịch marketingdưới đây là minh chứng cho điều này:
1. Chipotle nghĩ như một nhà giải trí
Thỏa mãn nhu cầu giải trí của khách hàng là mục tiêu mà chuỗi cửa hàng nướng Chipotle của Mexico hướng đến khi xây dựng chiến dịch dài hạn mang tên "Food With Integrity".
Mục tiêu của chiến dịch là nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về tác hại của việc giam giữ động vật, sử dụng thuốc trừ sâu và các chất kích thích độc hại trong ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm. Đồng thời giới thiệu hình ảnh của Chipotle như một đơn vị cung ứng thực phẩm nông nghiệp sạch.
Để làm được điều này, Chipotle đã hợp tác với công ty thiết kế đồ họa đã từng đoạt giải Oscar - Moonbot Studios thực hiện phim hoạt hình ngắn The Scaresrow. Câu chuyện xoay quanh hành trình chú bù nhìn rơm đấu tranh để thoát ra khỏi sự thống trị của tập đoàn thực phẩm Crow.



Phim ra mắt vào tháng 9/2013. Chỉ sau 2 tuần, đoạn phim ngắn này đã đạt 6,5 triệu lượt xem trên YouTube. Và đến thời điểm hiện tại thì số lượng xem đã vượt quá 12 triệu lượt.
Bên cạnh đó,Chipotle cũng đồng thời phát hành ứng dụng trò chơi điện thoại The Scaresrow trên nền tảng iOS. Trò chơi cho phép người dùng tham gia vào trận chiến chống lại tập đoàn thực phẩm Crow bằng cách vận chuyển các con vật bị giam cầm về lại đồng cỏ, trồng lại các cánh đồng rau quả trong nông trang Bù Nhìn... Sau 6 tuần ra mắt trên App Store, trò chơi đã được 500.000 lượt tải về.
Chiến dịch này đã giúp Chipotle gia tăng mức độ thiện cảm của khách hàng đối với công ty.
2. Dove và phái đẹp
Đoạn video quảng cáo hướng đến nâng cao tinh thần của phụ nữ về vẻ đẹp của mình do Dove thực hiện đã phá kỷ lục về đoạn video được yêu thích nhất trên mạng khi đạt 114 triệu lượt xem và 3,8 triệu lượt chia sẻ chỉ sau một tháng đầu ra mắt.
Thành công này bắt nguồn từ một thống kê của Dove cho thấy 54% phụ nữ toàn cầu luôn đánh giá thấp ngoại hình của bản thân hơn so với nhìn nhận của người khác về họ. Để tác động vào suy nghĩ này, Dove đã tiến hành chiến dịch Real Beauty Sketches, trọng tâm là một thể nghiệm với họa sĩ chuyên phác thảo của FBI, Gil Zamora.
Những người phụ nữ tham gia ngồi sau tấm màn che mặt và tự mô tả bản thân mình, Zamora dựa vào đó mà vẽ lại chân dung của họ. Đồng thời, Zamora cũng vẽ chân dung thứ hai của các phụ nữ này thông qua mô tả của người khác về họ. Sau đó, so sánh hai bức chân dung với nhau thì kết quả hoàn toàn bất ngờ.



Tận dụng sức mạnh kết nối của mạng xã hội, Dove phát đi đoạn video quay lại thể nghiệm này trên 33 kênh chính thức của YouTube với 25 ngôn ngữ khác nhau. Điều này giúp Dove chạm đến người tiêu dùng ở hơn 110 quốc gia trên khắp thế giới.
Chiến dịch này đã mang đến cho kênh Youtube chính thức của Dove 15.000 người theo dõi mới chỉ sau 2 tháng. Mọi người thảo luận với nhau về đoạn video này trên bản tin truyền hình, diễn đàn trực tuyến. Tháng 6/2013, Dove và đối tác truyền thông thực hiện chiến dịch này đã đạt giải sáng tạo nhất trong Liên hoan quốc tế Cannes Lions và giải Titanium Grand Prix.
3. Những em bé của Evian
Nhãn hiệu nước khoáng cao cấp của Danone đã thu về thành quả ngọt ngào sau chiến dịch Baby Rolled năm 2009. Đoạn clip quảng cáo này đã lập kỷ lục Guinnes thế giới về quảng cáo đầu tiên của một nhãn hàng lớn có lượt xem nhiều nhất, với hơn 25 triệu lượt xem trong chưa đến 2 tháng.

Evian tiếp tục theo đuổi ý tưởng về hình tượng các em bé với chiến dịch Baby Inside năm 2011 và chiến dịch Baby & Me vào tháng 4/2013. Quảng cáo Baby & Me đã đạt mốc 100 triệu lượt xem trên YouTube chỉ trong vài tuần.
Evian đã dùng kênh Facebook, các hoạt động khuyến mãi và cả ứng dụng điện thoại Baby & Me để tạo sức lan tỏa lớn cho những đứa bé của mình. Ứng dụng Baby & Me cho phép người dùng iOS lẫn Android có thể "trẻ con hóa" hình ảnh cá nhân và có thể chia sẻ qua Facebook, Instagram and Twitter với hashtag #evianbabyandme.
Những nỗ lực này đã biến hình ảnh những em bé vui nhộn trở thành dấu ấn thương hiệu của Evian trong nhận thức của cộng đồng.
4. Lay’s mời khách hàng vào bếp
Cơn sốt của nhãn hiệu khoai tây chiên Lay's đến từ chiến dịch mang tên Do Us a Flavor. Chiến dịch này thách thức khách hàng sáng tạo ra những hương vị mới cho khoai tây chiên Lay's. Phần thưởng cho người chiến thắng là 1 triệu USD hoặc 1% lợi nhuận thuần khi sản phẩm mang hương vị mới được bán ra.

Phát động vào năm 2012, thời điểm cơn nghiện đồ ăn vặt của người Mỹ đang lên cao, chiến dịchđã nhận được hơn 4 triệu ý tưởng mùi vị mới thông qua ứng dụng Facebook và tin nhắn điện thoại.
Công ty mẹ Frito-Lay đã cho sản xuất 3 mùi vị được chọn chung cuộc bởi ban giam khảo gồm các bếp trưởng và chuyên gia ẩm thực nổi tiếng của nước Mỹ.
Cuối cùng, hương vị bánh mì phô mai tỏi đã giành chiến thắng với hơn 1 triệu lượt bình chọn qua Facebook, Twitter và tin nhắn điện thoại vào tháng 5/2013.
Điều thành công của chiến dịch này chính là việc Lay's đã cho người tiêu dùng thấy rằng ý kiến của khách hàng là quan trọng nhất và công ty luôn tạo cơ hội để khách hàng tham gia vào khâu phát triển sản phẩm của công ty.
Do đó, kết thúc chiến dịch, lượng fan của Lay's trên Facebook tăng gấp 3 lần, doanh số bán hàng toàn nước Mỹ tăng 12%.
5. Vận may của GoPro
Tháng 8/2013, đoạn phim thô quay cảnh lính cứu hỏa Cory Kalanick giải cứu một chú mèo con đã thu hút 1,5 triệu lượt xem trên Youtube sau một tuần tải lên. Điều thú vị là đoạn phim tình cờ được quay bởi camera cá nhân GoPro gắn trên mũ bảo hiểm của anh lính cứu hỏa Cory.
Bắt lấy vận may này, công ty GoPro đã liên hệ để có được đoạn phim. Sau đó, GoPro phát lại phiên bản mới đã được biên tập và thêm logo của công ty trên trang Youtube chính thức của mình. Đoạn phim mới đã tạo ra một hiệu ứng mạnh về cảm xúc khi đạt mốc 5 triệu lượt xem chỉ trong một tuần.

Trước đó, những chiếc máy quay phim cá nhân của GoPro đã nổi tiếng với những thước phim quay cánh chơi ván trượt, lướt sóng và những môn thể thao mạo hiểm khác. Với đoạn phim lính cứu hỏa cứu mèo con, GoPro nhấn mạnh một cách hiểu khác về lòng dũng cảm và chứng minh tính hiệu quả của máy phim GoPro trong việc lưu lại những khoảnh khắc đáng nhớ.
Đoạn phim không chỉ thu hút sự chú ý của những người mê mạo hiểm hay yêu mèo, cuối năm 2012, hãng điện tử nổi tiếng của Trung Quốc Foxconn đã đề nghị mua lại 8,88% cổ phiếu của GoPro với giá 200 triệu USD.

Coca-Cola: Quảng cáo và Bảo vệ môi trường

Friday, 25 April 2014

The decoy effect

See how our decision-making changes when a decoy is thrown into the mix.

[Infographic] Tính khoa học trong việc định giá sản phẩm

header. ​

Giá cả là một trong những yếu tố quyết định sự sống còn của một mặt hàng khi được đưa ra thị trường, việc định giá không chỉ dừng lại ở mức xác định đúng giá trị của mặt hàng, để đảm bảo cho nhà sản xuất có lãi mà vẫn bán được hàng mà còn là định giá như thế nào để lôi kéo người tiêu dùng mua mặt hàng đó.

Tâm lý và hành vi của người tiêu dùng là điều mà những doanh nghiệp cần phải nắm bắt để đưa ra những chiến lược giá cả hợp lý. Nhiều cuộc khảo sát đã được thực hiện để tìm hiểu về vấn đề này và tìm ra không ít những cách thức giúp các doanh nghiệp đưa ra các mức giá hấp dẫn người tiêu dùng.

Infographic dưới đây trình bày kết quả của các cuộc khảo sát tiêu dùng cũng như những gợi ý trong việc định giá một cách khoa học.

[Submit] tinh khoa hoc cua viec dinh gia.

Thursday, 27 March 2014

Hồi gõ cửa xin việc, hồ sơ của tỉ phú Google trông thế nào?

 Jordan B | 27/03/2014 - 14:37

"Văn phòng hoành tráng, lương cao, làm ít. Thường xuyên được đi du lịch kỳ quan bằng công tác phí do công ty trả."




Hồi gõ cửa xin việc, hồ sơ của tỉ phú Google trông thế nào?

Hẳn Sergey Brin - nhà đồng sáng lập nên "gã khổng lồ" Google - đang là một trong những cái tên đình đám nhất trong ngành công nghệ thời nay, nhưng thời xưa thì... chưa chắc. Giống như bao người khác, sơ yếu lý lịch của anh vào đầu thập kỷ 90 cũng nhàng nhàng như ai.
Bản sơ yếu lý lịch cũ của Brin, sửa lại vào năm 1996, đang được lan truyền rộng rãi trên mạng.
Hồi gõ cửa xin việc, hồ sơ của tỉ phú Google trông thế nào? (1)

Sergey Brin
Chuyên ngành Khoa học Tin học
Đại học Standford,
Stanford, CA 94305
(415) 723-9273
Học lực
Tháng 9/1993 - đến nay: Chuyên ngành Công nghệ Tin học, Đại học Standford
Tiến sỹ: dự kiến hoàn thành vào tháng 7/1997.
Thạc sỹ Khoa học: đã nhận vào tháng 8/1995.
Người hướng dẫn: Giáo sư Hector Garcia-Molina.
Tháng 9/1990 - Tháng 5/1993: Đại học Maryland
Cử nhân Khoa học Tin học và Toán học. Tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Tin học với hai môn được đánh giá cao nhất là Toán học, tiếp theo là Tin học.
Các bài viết được đăng
"Near neighbor search in large metric space" (Giải thuật láng giềng trong không gian metric lớn), S.Brin, Diễn tiến Cơ sở dữ liệu cực lớn, năm 1995 (html).
"Copy detection mechanism for digital documents" (Cơ chế phát hiện bản sao cho văn bản số hóa), S.Brin, J. Davis, H.Garcia-Molina, ACM SGIMOD 1995 (html).
Công trình nghiên cứu
GNAT's
Công trình này có liên quan tới lập chỉ mục cho dữ liệu đa chiều đối với tìm kiếm bằng giải thuật láng giềng. Các dạng ứng dụng tôi hình dung ra là so sánh nhận dạng, tìm kiếm thông tin, sinh học phân tử,... Một bài viết về chủ đề này đã được đăng trên VLDB '95. Các phiên bản khác nhau của cấu trúc dữ liệu này được viết bằng Mathematica, C và cuối cùng là C++.
COPS
Tôi thực hiện công trình này cùng với giáo sư Hector Garcia-Molina xoay quanh vấn đề phát hiện vi phạm bản quyền. Cùng với James Davis, một thạc sỹ khác cùng trường, chúng tôi phát triển nên COPS - viết tắt của the COpyright Protection System. Một bài viết về chủ đề này đã được đăng trên SIGMOD'95.
Khi trình bày về hướng nghiên cứu hiện thời, Brin có liệt dự án đầu tay "Movie Ratings" - nghe giống như những chức năng gợi ý tích hợp trong các ứng dụng dạng như Netflix của thời nay.
Brin miêu tả ứng dụng này cho phép người dùng đánh giá các bộ phim đã xem, hệ thống sẽ hiển thị những người dùng có sở thích tương tự để gợi ý ra những bộ phim đáng chú ý khác.
Hồi gõ cửa xin việc, hồ sơ của tỉ phú Google trông thế nào? (2)

Hướng nghiên cứu hiện thời và các sản phẩm hoàn thành
Movie Ratings
Dự án mới được bắt đầu này sẽ cho phép người sử dụng bình chọn phim đã xem. Trình tự hoạt động như sau: Bạn bình chọn cho bộ phim đã xem, sau đó hệ thống sẽ tìm ra những người dùng khác có cùng sở thích để ngoại suy xem bạn sẽ thích những bộ phim khác ở mức độ nào. Dự án được viết hoàn toàn bằng Python.
Bộ chuyển đổi LaTeX sang HTML
Tôi đã hoàn thành dự án lập trình bộ chuyển đổi LaTeX sang HTML, được dùng để tạo ra phiên bản HTML cho những bài viết được đề cập ở trên. Điều đặc biệt là bộ chuyển đổi hầu như được viết bằng TeX, thiết kế có phần trang nhã hơn những bộ chuyển đổi khác, một bộ phận nhỏ được viết bằng Perl.
Kinh nghiệm làm việc
Mùa hè năm 1993: Wolfram Research
Tôi phát triển một công cụ phân tích và trích xuất mã cho mã nguồn Mathematica.
Tháng 9/1992 - tháng 5/1993: Đại học Maryland, Nhóm phân tích và thiết kế hệ thống (SDAG)
Tại SDAG, tôi phát triển các thuật toán nhằm mục đích lập kế hoạch trong hệ thống thời gian thực. Công việc này liên quan tới tìm kiếm các giá trị gần đúng để giải quyết các bài toán lớpNP-đầy đủ. Ngoài ra, tôi còn làm về các công cụ lập hồ sơ cho hệ thống thời gian thực.
Mùa hè năm 1991 và mùa hè năm 1992: General Electric Information Services (GEIS)
Năm 1991, tôi phát triển một thư viện ngôn ngữ vĩ mô có khả năng nhúng được vào mọi ứng dụng. Điều này rất quan trọng đối với GEIS vì qua đó họ hiểu C++ có tác dụng như thế nào với mình. Mùa hè năm tiếp theo tôi phát triển thiết bị đồ họa cho một chương trình truyền tập tin bằng ngôn ngữ C ++.
Mùa hè năm 1991 - tháng 7 năm 1992: Khoa Toán học
Tiến sĩ Goldman, khoa Toán học, Đại học Maryland công tác trong lĩnh vực hình học và cấu trúc liên kết. Tôi hợp tác với thầy để phát triển thư viện C++ phiên bản portable hỗ trợ việc hiển thị các đối tượng trong hình học phi Euclide.
Tháng 7 - 1990 - tháng 7/1991: Đại học Maryland, Học viện Nghiên cứu Tin học Nâng cao
Tôi phát triển và thực hiện một thuật toán song song để xử lý hình ảnh, gồm phân tích các thành phần kết nối, làm mịn hình ảnh và nâng cao chất lượng hình ảnh. Ngoài ra, tôi còn phát triển cả các đoạn chương trình đồ họa 3D chạy song song phục vụ cho việc giả lập chuyến bay. Cả hai dự án đều viết bằng C/Paris và C* (6.0+) trên một máy kết nối CM-2 với 16384 bộ vi xử lý.
Nhưng điều thú vị nhất là đoạn nói về kỳ vọng về công việc Brin đã ẩn giấu trong đoạn mã HTML của hồ sơ, chỉ cần nhấn chuột phải vào trang hồ sơ và chọn "View Source", ta sẽ thấy điều "kỳ diệu" hiện ra:
Hồi gõ cửa xin việc, hồ sơ của tỉ phú Google trông thế nào? (3)

Và rồi như ngày nay, sự nghiệp của Brin tại Google đã vượt qua cả mục tiêu đó. Hiện anh đang phụ trách Dự Án Đặc Biệt của công ty. Tài sản của nhà đồng sáng lập "gã khổng lồ tìm kiếm" này ước tính lên tới 31,8 tỷ USD.
Theo Cafebiz.vn

Tuesday, 18 March 2014

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp'

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp


Chẳng mấy thứ trông chán hơn một gói mì ăn liền. Là lựa chọn sau cùng cho một bữa tối, được mua với số lượng lớn và sẵn sàng phục vụ chỉ sau vài phút, mì ăn liền là loại thực phẩm rẻ tiền và chẳng đáng quan tâm. 

Tuy vậy, sự thực là, những đặc tính vô cùng khiêm nhường ấy lại khiến mì ăn liền trở thành một nguồn lực gây ảnh hưởng đến tất cả mọi người trên thế giới.

Chuyện mì ăn liền đi đâu cũng thấy, từ các trường đại học giàu có nhất đến những thành thị nghèo nhất ở các quốc gia đang phát triển, đã hấp dẫn ba nhà nhân chủng học Deborah Gewertz của Đại học Amherst, Frederick Errington của Đại học Trinity, và Tatsuro Fujikura tại Đại học Kyoto. 

Họ quyết định tìm hiểu sự xuất hiện của món ăn này ở Nhật Bản, Hoa Kỳ và New Guinea, tầm quan trọng của mức giá, tính cơ động và bảo quản khô của mì ăn liền. Tất cả được ghi lại trong cuốn sách "Những câu chuyện về mì ăn liền: Sự lên ngôi của một ngành công nghiệp thực phẩm trong thế kỷ hai mốt" (The Noodle Narratives: The Global Rise of an Industrial Food into the Twenty-First Century).

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp' (1)
Có khoảng 100 tỷ gói/cốc mì đã được bán ra trong năm 2012, tức là bình quân mỗi người sẽ ăn 14 gói mì/năm.

Rõ ràng, sự hiện diện khủng khiếp của mì ăn liền gần như rải kín khắp nơi trên thế giới. Năm 2012, theo Hiệp hội Mì ăn liền Thế giới, đã có khoảng 100 tỷ gói/cốc mì đã được bán ra, tức là bình quân mỗi người sẽ ăn 14 gói mì/năm. Các gia vị chua cay bên trong gói mì cũng được gia giảm phù hợp với khẩu vị địa phương từ châu Á cho đến Mexico. 

Một khảo sát tiến hành ở khu dân cư ở Tokyo cho thấy, mì ăn liền đã đánh bại máy vi tính, karaoke và máy nghe nhạc Walkman để trở thành phát minh có ảnh hưởng nhất của Nhật Bản trong thế kỷ 20.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy mì ăn liền có vai trò phức tạp vượt xa khỏi mục đích tìm hiểu ban đầu của họ. Mì ăn liền, theo họ lập luận, là một bộ phận của "vốn lương thực", nó cho phép đói nghèo tồn tại và tạo ra một tầng lớp người tiêu dùng ở dưới đáy của kim tự tháp kinh tế. Đồng thời, mì ăn liền cũng có lợi ích, là cung cấp dưỡng chất giá rẻ cho người nghèo.

Liệu rằng Koki Ando, con trai của người phát minh ra mì ăn liền, có đúng khi tuyên bố rằng sản phẩm này có thể cứu cả thế giới tại Hội nghị thượng đỉnh Mì ăn liền năm 2010? Để tìm câu trả lời, phóng viên tờ Boston Global đã phỏng vấn bà Deborah Gewertz (1 trong 3 nhà nhân chủng học đã tham gia nghiên cứu).

Hỏi: Mì ăn liền có được xem là một "phát minh", thưa bà?

Bà Gewwertz: Người Nhật có món mì ramen truyền thống từ lâu đời. Chúng ta đang nói về món mì ramen thực sự, với các thành phần phức tạp và nước súp được chế biến kỳ công và mất nhiều thời gian với tất cả những nguyên liệu và công thức tinh túy nhất. 

Vào năm 1958, sau chiến tranh, nhiều người đã bị đói... Đây là một phần của huyền thoại được kể trong viện bảo tàng: 

"Một người đàn ông tên Momofuku Ando, khi chứng kiến cảnh những người đồng hương của mình bị đói và ông muốn giúp đỡ họ bằng cách tạo ra một món ăn không tốn kém, bảo quản được lâu, ngon miệng nhưng không mất thời gian chuẩn bị... 

Ông nhớ lại các nguyên tắc làm món tempura*, và sử dụng nguyên tắc chế biến và chiên nhanh của món ăn này để tạo ra món mì ăn liền của mình. Việc cần làm là khiến mì trở nên khô và xốp, bằng cách cho chúng chao qua một bể dầu. Kết quả là mì được hút khô nước rất nhanh.

Ông Ando đã thử nghiệm không mệt mỏi và sau đó bắt đầu kinh doanh món mì ăn liền đầu tiên trên thế giới".

* Tempura là một món ẩm thực của Nhật Bản gồm các loại hải sản, rau, củ tẩm bột mì rán ngập trong dầu. Bột để làm tempura là thứ hỗn hợp nhão của bột mì, lòng trứng gà và nước nguội. Dầu để rán là hỗn hợp dầu ăn thông thường với dầu vừng.


Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp' (2)
Momofuku Ando - "Cha đẻ" của món mì ăn liền.

Tại sao bà quyết định nghiên cứu về mì ăn liền?

Mì ăn liền xuất hiện rất nhiều trong ngành nhân chủng học của chúng tôi. Có thể nói, rất nhiều người dân ở Papua New Guinea, nơi chúng tôi (bà Deborah Gewertz - Đại học Amherst và ông Frederick Errington - Đại học Trinity) đang làm việc từ những năm 60, 70, họ đã, đang ăn mì ăn liền và nói chuyện về mì ăn liền. Có người từng nói: "Nếu không còn mì gói, sẽ chẳng còn chút hi vọng nào".

Điều gì khiến mì ăn liền khác với bất kỳ loại thực phẩm sản xuất hàng loạt nào khác vậy?

Điều thú vị nhất mà chúng tôi nhận thấy là gần như tất cả mọi người trên thế giới đều đã ăn mì ăn liền, vì các lí do khác nhau và với các túi tiền khác nhau. Bởi vậy, trong một vài mối liên kết, mì ăn liền bỗng trở thành một câu chuyện toàn cầu về cách con người chúng ta kết nối với nhau và khác biệt lẫn nhau.

Ý nghĩa của mì ăn liền trên các thị trường khác nhau (mà bà nghiên cứu) có sự khác biệt ra sao?

Ở Nhật Bản, thị trường mì ăn liền đã bị bão hòa. Người Nhật luôn có sẵn món mì ramen thực sự của họ. Vậy mà mỗi năm vẫn có đến 600 chủng loại mì ăn liền mới với lớp vỏ ngoài hào nhoáng được tung ra và giới thiệu vào thị trường này. 

Còn Mỹ là một thị trường cơ bản, một thị trường hàng hóa. Người ta mua mì ăn liền vì chúng có giá rẻ. Có thể kể đến 3 phân khúc ở thị trường mì ăn liền Mỹ.

Phân khúc lớn nhất ở thị trường này dành cho những người nghèo. Họ là những người làm việc sau những quầy bán đồ ăn nhanh và hưởng lương theo giờ. Một người từng trả lời phỏng vấn, rằng ông ta ăn mì gói vào bữa sáng và bữa trưa, nhưng không bao giờ dùng để ăn tối, bởi vì nếu vậy thì thật đáng buồn.

Phân khúc thứ hai là các tù nhân. Họ mua mì ăn liền tại kho lương và trộn chúng với các thành phần hỗn độn khác, từ bánh ngọt, bơ đậu phộng và mứt, để thành phiên bản mì ăn liền có hương vị của tự do. Họ mua chúng vì họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn với món ăn này.

Và phân khúc thứ ba, đương nhiên rồi, các sinh viên đại học... Họ không được nấu nướng trong phòng ký túc và bởi vậy mì gói trở thành món ăn thường ngày không thể thiếu. "Chúng tôi không được phép nấu nướng trong phòng nên chúng tôi úp mì ăn liền và ngắm hoàng hôn. Dường như tôi sống cùng với mì gói".

Và ở Papua New Guinea, mì ăn liền đã đổ bộ từ những năm 80. Thời điểm đó, nhiều người dân đã rời làng mạc để lên thành phố, và rất nhiều trong số đó trở thành những người đói rách. Họ đã không chỉ phụ thuộc vào mì ăn liền, mà họ còn thực sự thích chúng vì lý do khác: Ai cũng có thể bước vào cửa hàng và mua mì gói. Mọi người thực sự thích được trải nghiệm lựa chọn rất nhiều sản phẩm tùy chọn. Điều này đã thay đổi người dân Papua New Guinea, biến họ trở thành những người tiêu dùng.

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp' (3)
Cuốn sách "Kho báu ở dưới đáy của Kim tự tháp" - C.K. Prahalad: 
"Nếu bạn có thể tìm thấy các sản phẩm dành cho những người ở "dưới đáy kim tự tháp", bạn có thể không kiếm được nhiều tiền từ một vài người, nhưng bạn sẽ kiếm được rất nhiều tiền từ tất cả những người đó". 

Bà nói rằng những người "ở dưới đáy kim tự tháp" được thiết kế là phân khúc thị trường mục tiêu của các nhà sản xuất mì ăn liền. Bà có thể giải thích được chứ?

C.K. Prahalad đã viết một cuốn sách rất có ảnh hưởng mang tên "Kho báu ở dưới đáy của Kim tự tháp" (The Fortune at the Bottom of the Pyramid).

Ông ấy cho rằng, mặc dù người nghèo có rất ít tiền, nhưng tiền của tất cả người nghèo lại là con số lớn. Do đó, nếu bạn có thể tìm thấy các sản phẩm dành cho những người ở "dưới đáy kim tự tháp", bạn có thể không kiếm được nhiều tiền từ một vài người, nhưng bạn sẽ kiếm được rất nhiều tiền từ tất cả những người đó. 

Nếu bạn có thể bán hàng cho những người ở dưới đáy kim tự tháp và cho họ quyền trải nghiệm, lựa chọn và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, họ sẽ làm dịch chuyển nền kinh tế... Và kim tự tháp cũng sẽ dịch chuyển và tiến hóa lên.

Chúng ta thường có xu hướng nghĩ rằng mì ăn liền nằm ở "dưới đáy kim tự tháp", nhưng hãy thay đổi cách nhìn nhận vấn đề rằng: càng nhiều đồ ăn đến từ những nơi khác, càng ít đảm bảo an toàn. 

Vậy tương lại của mì ăn liền là gì?

Tôi nghĩ là mì gói sẽ không thể dừng lại... Có thể thấy rằng những người rất, rất, rất nghèo luôn cần nguồn năng lượng để sống. 

Chúng tôi không cho rằng mì ăn liền sẽ cứu thế giới với bất cứ ý nghĩa nào, nhưng chúng tôi có thể kết luận, một cách khá miễn cưỡng, mì ăn liền mang nhiều điều tốt hơn là có hại đến những người nghèo. Chính xác thì chúng không nuôi dưỡng họ, mà là giúp họ tồn tại.

Kiến Anh
Theo Trí Thức Trẻ/The Boston Global