Showing posts with label economy. Show all posts
Showing posts with label economy. Show all posts

Friday, 25 April 2014

The decoy effect

See how our decision-making changes when a decoy is thrown into the mix.

[Infographic] Tính khoa học trong việc định giá sản phẩm

header. ​

Giá cả là một trong những yếu tố quyết định sự sống còn của một mặt hàng khi được đưa ra thị trường, việc định giá không chỉ dừng lại ở mức xác định đúng giá trị của mặt hàng, để đảm bảo cho nhà sản xuất có lãi mà vẫn bán được hàng mà còn là định giá như thế nào để lôi kéo người tiêu dùng mua mặt hàng đó.

Tâm lý và hành vi của người tiêu dùng là điều mà những doanh nghiệp cần phải nắm bắt để đưa ra những chiến lược giá cả hợp lý. Nhiều cuộc khảo sát đã được thực hiện để tìm hiểu về vấn đề này và tìm ra không ít những cách thức giúp các doanh nghiệp đưa ra các mức giá hấp dẫn người tiêu dùng.

Infographic dưới đây trình bày kết quả của các cuộc khảo sát tiêu dùng cũng như những gợi ý trong việc định giá một cách khoa học.

[Submit] tinh khoa hoc cua viec dinh gia.

Sunday, 20 April 2014

Five ways Apple & Microsoft save taxes


30 May, 2013
Source



Some of the largest US multinationals resort to ingenious—though legal—practices to pay virtually no tax on their non-US profits, muchto the growing chagrin of governments and civil society.

One of them has a subsidiary in Ireland that does not pay income tax to any government in the world. Another has negotiated with the government of Puerto Rico to pay tax of just 2% on its profits.

ET outlines the five methods they deploy to avoid taxes:


Use transfer pricing to reduce non-US profits

Companies try to reduce tax rate by using transfer pricing—the rules that govern inter-company transactions within the same ownership.

Take Microsoft, whose operating systems reside in computers across the world. In 2011, according to the US senate investigations subcommittee, the company incurred 85% of its $9.1 bn R&D expenditure in the US. Yet, for tax purposes, Microsoft showed only 35% of this as contributed by Microsoft US.

Microsoft apportioned it to subsidiaries around the world in proportion to the revenues earned by them—termed a 'cost-sharing arrangement'. Thus, if its Irish arm accounted for 30% of its global revenues, 30% of Microsoft's R&D spend was expensed by this entity, enabling it to reduce its net profit further.

Apple has a similar structure, where economic rights of intellectual property for non-US sales are transferred to an Irish subsidiary. This Irish arm earned pre-tax profits of $22 bn in 2011, but Apple paid tax of just $10 mn on that income— an effective tax rate of 0.05%.


Use transfer pricing to reduce US profits too
Companies have also been transferring—and reducing—their US profits and tax liability. For example, Microsoft has a Puerto Rican subsidiary, Microsoft Operations Puerto Rico (MOPR), which holds the rights to sell to US customers.

'The US entities retain 53% of the gross profits and send the remaining 47% to MOPR in Puerto Rico, where it is taxed at a pre-negotiated rate of around 2%', says an earlier US Senate's investigation subcommittee.

By this method, the report adds, Microsoft saved $4.5 billion in taxes during three years.


Form an Irish company, but control it from the US

The tax laws of most countries, including the US, apply to companies on the basis of where they are registered. Thus, if a company is registered in the US, it is taxed in the US.

Ireland is different, in that it uses 'control' as the basis of taxation. Thus, a company that is registered in Ireland but controlled from, say, the US will not be liable to be taxed.

Multinationals exploit this loophole extensively. For example, an Apple subsidiary, Apple Operations International, earned $30 billion in net profit between 2009 and 2012. But the firm never declared tax residence
and paid no tax. Ireland's low corporate income tax rate of 12.5% is its main attraction.




In Pic: Apple Operations International, a subsidiary of Apple Inc, in the south of Ireland.


Even better, form two Irish companies

By setting up more than one subsidiary in Ireland, and structuring transactions between them, companies can lower even the 12.5% rate. The first Irish subsidiary, say A, will buy the intellectual property rights (IPR) from its US parent by participating in a cost-sharing agreement. This company would be controlled and managed outside Ireland, usually in the US, as in the case of Apple, or in a tax haven like Bermuda.

Since, it's controlled outside Ireland, it need not pay tax in Ireland. In the second step, A sub-licences the IPR to B, the second Irish subsidiary. Usually, B would be selling the company's product and services in non-US locations. So, for B, income would be in the form of sales and the expense would be payment of licensing fee to A, enabling it to lower its tax outgo further. This method is referred to as 'double Irish'.

A US senate panel report says Microsoft saved $4.5 bn in taxes between 2009 and 2011 by offshoring profits. Similarly, Apple has three Irish entities.


Go Dutch to save withholding tax

The Dutch tax system does not tax dividends and capital gains received from foreign subsidiaries. At the same time, it has zero withholding taxes on outgoing interest and royalties. So, both the inward and outward flow of money is not taxed.
In addition, the Netherlands has a multitude of tax treaties that reduces withholding taxes. So, effectively, if the payment goes from India to Netherlands, it will be subject to a lower withholding tax. Likewise from all countries with whom the Netherlands has a tax treaty.

The Dutch company will be placed between the two Irish firms, A Ltd and B Ltd. So, if B Ltd was paying royalties to A Ltd, then it would be liable for Irish withholding tax. But now the payment from B Ltd would be routed first to the Dutch entity, which in turn would transfer almost the entire money received to A Ltd.

This is because Irish tax laws exempt withholding taxes on royalties on payments made to companies in other European Union countries. Since the Dutch company is placed in between two Irish firms, this method is called the 'Dutch sandwich'.



In Pic: Apple Operations International, a subsidiary of Apple Inc, in south of Ireland.


Saturday, 29 March 2014

Over-The-Counter Market

A decentralized market, without a central physical location, where market participants trade with one another through various communication modes such as the telephone, email and proprietary electronic trading systems. An over-the-counter (OTC) market and an exchange market are the two basic ways of organizing financial markets. In an OTC market, dealers act as market makers by quoting prices at which they will buy and sell a security or currency. A trade can be executed between two participants in an OTC market without others being aware of the price at which the transaction was effected. In general, OTC markets are therefore less transparent than exchanges and are also subject to fewer regulations.

OTC markets are primarily used to trade bonds, currencies, derivatives and structured products. They can also be used to trade equities, such as the OTCQX, OTCQB and OTC Pink marketplaces (previously the OTC Bulletin Board and Pink Sheets) in the U.S. Broker-dealers that operate in the U.S. OTC markets are regulated by the Financial Industry Regulatory Authority (FINRA).

OTC markets are typically bifurcated into the customer market – where dealers trade with their clients such as corporations and institutions – and the interdealer market, where dealers trade with each other. The price a dealer quotes to a client may very well differ from the price it quotes to another dealer, and the bid-ask spread may also be wider in the case of the former than in the latter.


While OTC markets function well during normal times, their lack of transparency can cause a vicious circle to develop during times of financial stress, as was the case during the 2007-08 global credit crisis. Mortgage-backed securities and other derivatives such as CDOs and CMOs, which were traded solely in the OTC markets, could not be priced reliably as liquidity totally dried up in the absence of buyers. This resulted in an increasing number of dealers withdrawing from their market-making functions, exacerbating the liquidity problem and causing a worldwide credit crunch. Among the regulatory initiatives undertaken in the aftermath of the crisis to resolve this issue was the use of clearinghouses for post-trade processing of OTC trades.

Thursday, 27 March 2014

OTT – Thành công dễ đến cũng dễ đi?

OTT – Thành công dễ đến cũng dễ đi?

Một thị trường có quá ít rào cản
Như GenK đã đề cập ở nhiều bài trước, thị trường ứng dụng OTT có quá ít rào cản bởi cơ chế định danh của các ứng dụng OTT chủ yếu dựa trên số điện thoại của người dùng.  Ở buổi bình minh của các ứng dụng gọi điện và nhắn tin miễn phí thì cơ chế định danh này là một thế mạnh. Vì việc sử dụng số liên lạc có sẵn của người dùng để kết nối họ với nhau giúp họ đỡ “lạc lõng” khi tiếp cận một dịch vụ mới. Hãy nhớ lại ngày đầu tiên bạn dùng Facebook với chỉ vài ba người bạn và newsfeed gần như trống rỗng và khác biệt khi bạn bắt đầu dùng Viber, Line hay Zalo với một danh sách hàng chục bạn.
Thế nhưng, dễ đến thì dễ đi. Cơ chế định danh bằng số điện thoại lại trở thành một vũ khí “đâm sau lưng chiến sĩ” khi thị trường trở nên bão hòa và có tính cạnh tranh cao. Người viết có hơn trăm bạn trên Viber và vài chục ở Zalo, nhưng rất khó để liên lạc với mọi người. Bởi vì nhiều khi nhắn đến một người nào đó và chờ cả tuần không thấy trả lời, đơn giản chỉ vì người dùng đã xóa ứng dụng.
Cơ chế định danh quá dễ dàng đã khiến người dùng không có cảm giác tiếc nuối với “cái nick” của mình như trước. Việc bỏ một ứng dụng ra đi không khiến người dùng phải suy nghĩ nhiều như thời họ phải bỏ khỏi Blog 360 hay Yahoo Messenger. Đơn giản chỉ là xóa ứng dụng và bạn bè của họ vẫn ở đó, với số điện thoại hoặc nick Facebook cũ để liên lạc.
Hãy nhìn trường hợp của Telegram: ứng dụng gần như vô danh tăng trưởng hơn 150 lần sau 2 tháng kể từ khi Facebook mua lại WhatsApp. Ngoài việc Telegram là một ứng dụng đủ tốt, việcngười dùng WhatsApp hô hào “di cư” khỏi ứng dụng này khi Facebook mua lại là một nguyên nhân đáng kể để Telegram thành công.
Những đối thủ mới có nhiều cơ hội hơn
Với hơn 1 tỷ người dùng và vẫn còn  tiếp tục tăng, Facebook là đối thủ gần như không thể đánh bại, nói cách khác kẻ muốn đánh bại Facebook phải phát triển một nền tảng khác, chứ không phải là mạng xã hội. Hay Google chiếm hơn 90% thị trường tìm kiếm thế giới cũng không có đối thủ ở mảng tìm kiếm. Bing của Microsoft dù được đầu tư hàng tỷ USD mỗi năm cũng không có đủ sức mạnh để chống lại Google. Quy luật kẻ mạnh là kẻ giành được tất cả khiến những kẻ thống trị ở internet đưa ra những luật lệ riêng.
Vấn đề là ở thị trường OTT, câu chuyện không hoàn toàn giống như vậy. Ở một thị trường mà người dùng dễ rời bỏ và thiếu tính gắn bó với dịch vụ như OTT, các đối thủ mới có thể lật đổ ứng dụng thống trị dễ dàng hơn. Telegram chiếm được một miếng bánh bằng khoảng 1/12 của WhatsApp trong một thời gian ngắn nhờ sự bất mãn của một bộ phận người dùng WhatsApp. Vì thế không loại trừ khả năng xuất hiện một đối thủ đánh bại WhatsApp đơn giản chỉ vì họ có chất lượng tốt hơn. Và khi ấy người dùng sẽ chuyển qua ứng dụng mới và có lại bạn bè thông qua định danh bằng số điện thoại trong danh bạ hoặc nick Facebook.
Gần đây có tin cho rằng các nhà mạng Việt sắp ra mắt ứng dụng nhắn tin mới. Trong khi đó thị trường nước ta đón nhận thêm đối thủ BeeTalk, một sản phẩm có nguồn vốn của Tencentvới nhiều hoạt động quảng cáo rầm rộ.
Zalo cho rằng họ đang có mặt trên một nửa số smartphone ở nước ta và đối thủ ngay sát sau họ, Viber cũng có số lượng người dùng gần bằng với Zalo. Nếu nhìn một cách cơ học thì cơ hội cho đối thủ mới giành giật người dùng với các ứng dụng cũ là rất khó. Nhưng với ứng dụng OTT, đây lại không phải là một thách thức thực sự lớn.
Một điểm khác cần lưu ý rằng tại Việt Nam chưa có OTT nào đạt vị thế thống trị. Nên việc một ứng dụng mới toanh có thể cạnh tranh với hai đối thủ lớn không phải là điều quá khó.
Dĩ nhiên, lượng người dùng lên đến hàng chục triệu cũng có những lợi thế nhất định, ít nhất là về mặt nhận diện thương hiệu. Nhưng  như đã đề cập ở trên, khi thành công dễ đến và dễ đi, các ứng dụng kỳ cựu cần “phòng thủ” nhiều hơn trước các đối thủ mới.

Sunday, 23 March 2014

Secured vs. Unsecured Loans


Secured vs. Unsecured Loans

There are two basic categories that most loan types fall into – Secured and Unsecured.

Secured Loan
Secured loans are those loans that are protected by an asset or collateral of some sort. The item purchased, such as a home or a car, can be used as collateral, and a lien is placed on such item. The finance company or bank will hold the deed or title until the loan has been paid in full, including interest and all applicable fees. Other items such as stocks, bonds, or personal property can be put up to secure a loan as well.

Secured loans are usually the best (and only) way to obtain large amounts of money. A lender is not likely to loan a large amount with assurance that the money will be repaid. Putting your home or other property on the line is a fairly safe guarantee that you will do everything in your power to repay the loan.

Secured loans are not just for new purchases either. Secured loans can also be home equity loans or home equity lines of credit. Such loans are based on the amount of home equity, which is simply the current market value of your home minus the amount still owed. Your home is used as collateral and failure to make timely payments could result in losing your home.

Secured loans usually offer lower rates, higher borrowing limits and longer repayment terms than unsecured loans. As the term implies, a secured loan means you are providing "security" that your loan will be repaid according to the agreed terms and conditions. It's important to remember, if you are unable to repay a secured loan, the lender has recourse to the collateral you have pledged and may be able to sell it to pay off the loan.

Examples of Secured Loans:
  • Mortgage
  • Home Equity Line of Credit
  • Auto Loan (New and Used)
  • Boat Loan
  • Recreational Vehicle Loan

Unsecured Loan
On the other hand, unsecured loans are the opposite of secured loans and include things like credit card purchases, education loans, or personal (signature) loans. Lenders take more of a risk by making such a loan, with no property or assets to recover in case of default, which is why

the interest rates are considerably higher. If you have been turned down for unsecured credit, you may still be able to obtain secured loans, as long as you have something of value or if the purchase you wish to make can be used as collateral.

When you apply for a loan that is unsecured, the lender believes that you can repay the loan on the basis of your financial resources. You will be judged based on the five (5) C's of credit -- character, capacity, capital, collateral, and conditions – these are all criteria used to assess a borrower's creditworthiness. Character, capacity, capital, and collateral refer to the borrower's willingness and ability to repay the debt. Conditions include the borrower's situation as well as general economic factors.
Examples of Unsecured Loans:
  • Credit Cards
  • Personal (Signature) Loans
  • Personal Lines of Credit
  • Student Loans (note that tax returns can be garnished to repay delinquent student loans)
  • Some Home Improvement Loans

Tuesday, 18 March 2014

Đầu tư ồ ạt kiểu Trung Quốc - Kỳ 2: Sẽ khủng hoảng như Nhật 3 thập kỷ trước?

Thứ Tư, 19/02/2014 

Làn sóng mua sắm của Trung Quốc đang tác động toàn diện đến kinh tế, chính trị, thậm chí là chiến lược của các quốc gia trên thế giới. Gia tăng đầu tư nước ngoài chiếm vai trò rất quan trọng đối với chiến lược dài hạn của Bắc Kinh, hơn hẳn việc tranh giành trong các mâu thuẫn lãnh thổ dai dẳng.


Việc Trung Quốc đầu tư ồ ạt ra nước ngoài trong những năm gần đây có nhiều điểm khá tương đồng với chính sách đầu tư của Nhật tại Mỹ vào những năm 1980.
 
Nguy cơ tiềm ẩn

Nguy cơ tiềm ẩn

Tương tự Trung Quốc hiện nay, Nhật Bản 3 thập kỷ trước cũng ở trong giai đoạn bùng nổ kinh tế vô cùng mạnh mẽ nhờ vào xuất khẩu và các công ty Nhật bắt đầu làn sóng mua sắm rộng khắp. Từ trái phiếu chính phủ và cổ phiếu của các tập đoàn lớn, cho tới các công ty và các trung tâm thương mại đều bị cuốn theo làn sóng mua sắm của các tập đoàn đa quốc gia Nhật Bản. Thậm chí, công chúng còn lo ngại Nhật Bản đang “mua” cả nước Mỹ và vẽ ra viễn cảnh đen tối về thảm họa “Trân Châu cảng kinh tế”.

Do sức ép quá lớn từ thâm hụt thương mại với Nhật và nguy cơ tiềm ẩn từ làn sóng mua lại, các nước phương Tây trong G5 (Mỹ, Nhật, Đức, Anh và Pháp) đã gây áp lực lên chính phủ Nhật đòi hỏi thay đổi chính sách, mở rộng thị trường nội địa đối với hàng hóá và tư bản tài chính. Đặc biệt vào năm 1985, Thỏa thuậnPlaza được đưa ra nhằm tăng giá đồng Yên và giảm giá USD để giảm khả năng cạnh tranh của Nhật.

Không chỉ tương đồng về hành vi, làn sóng mua sắm của Trung Quốc cũng tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ tương tự như đối với làn sóng đầu tư của Nhật những năm 1980. Ba thập kỷ trước, sự bùng nổ kinh tế của Nhật đã kết thúc với khủng hoảng kinh tế vào năm 1991, kéo theo đó là khủng hoảng kinh tế Đông Á 1997 khiến các nước phải thực hiện cải cách và xem xét lại mô hình kinh tế đất nước, trong khi Nhật cũng phải chật vật gần 3 thập kỷ để ổn định tình hình.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng chính là sự sụp đổ bong bóng tài sản - vốn là điều mà các chuyên gia kinh tế thế giới lo ngại về sự phát triển quá nóng của kinh tế Trung Quốc thời gian qua. Theo các số liệu công bố những năm gần đây, giá địa ốc tại hầu hết các thành phố lớn nhất Trung Quốc đều gia tăng nhanh chóng ở mức 2 con số và đặc biệt là tại đặc khu kinh tế Thâm Quyến, giá địa ốc đã tăng đến 20% chỉ trong 1 năm.

Cũng như quá trình đầu tư ồ ạt, sự tăng “nóng” trong thị trường bất động sản cũng bắt nguồn từ những kẻ giàu có, các tập đoàn tư nhân và các doanh nghiệp nhà nước có quá nhiều tiền một cách nhanh chóng và dễ dàng, đến nỗi họ không biết phải làm gì và bắt đầu làm những thứ “điên rồ”. Giá trị của một căn hộ tại Bắc Kinh, một bức tranh của Picasso hay một tờ USD sẽ phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của người sử dụng.

Nhưng còn lâu mới bằng Nhật

Tuy nhiên, làn sóng mua sắm của Trung Quốc cũng có một vài điều khác với Nhật Bản.
Thứ nhất, Trung Quốc không hề được chấp nhận vào trật tự kinh tế quốc tế do Mỹ lãnh đạo, và Bắc Kinh cũng không hề có ý “nghe lời” Washington; khác với Nhật Bản những năm 1980 vẫn thuộc nhóm G5 do Mỹ lãnh đạo. Vì vậy Trung Quốc sẽ khó sụp đổ do sức ép từ Mỹ.

Trung Quốc hiện có chính sách đối ngoại rất độc lập, thậm chí là đối đầu với trật tự đơn cực do Mỹ thiết lập trên toàn cầu. Bắc Kinh và Washington đã cạnh tranh ảnh hưởng ở gần như tất cả các điểm nóng trên thế giới, từ những bất ổn tại Trung Đông cho tới xung đột lãnh thổ trên biển Đông; từ các nước Trung Á từng thuộc Liên Xô cho tới châu Phi kém phát triển, trên cả bình diện chính trị lẫn kinh tế.

Nhưng quan trọng hơn, khác biệt lớn nhất giữa Trung Quốc và Nhật Bản chính là tiềm năng để tiếp tục phát triển. Vào đầu những năm 1990, Nhật Bản có mức thu nhập GDP trên đầu người cao hơn cả Mỹ. Trong khi hiện nay, tính trên sức mua tương đương, thu nhập GDP trên đầu người của Trung Quốc chỉ bằng 1/5 so với Mỹ.

Dưới góc độ bành trướng kinh tế từ bên trong thì kinh tế Trung Quốc có thể phát triển mạnh mẽ hơn rất nhiều. Vì nếu Trung Quốc có thể phát triển kinh tế để đạt mức GDP trên đầu người bằng 1/3 nước Mỹ thì Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới - đồng nghĩa với việc có nhiều tiền hơn để đầu tư ra nước ngoài. Cần phải nhắc lại rằng hiện nay, dù chỉ là nước có GDP thứ hai thế giới và xấp xỉ 1/2 GDP của Mỹ, nhưng Trung Quốc cũng vừa vượt qua Mỹ để trở thành quốc gia giao thương lớn nhất thế giới.
Làn sóng mua sắm của Trung Quốc đang tác động toàn diện đến kinh tế, chính trị, thậm chí là chiến lược của các quốc gia trên thế giới. Gia tăng đầu tư nước ngoài chiếm vai trò rất quan trọng đối với chiến lược dài hạn của Bắc Kinh, hơn hẳn việc tranh giành trong các mâu thuẫn lãnh thổ dai dẳng.

Lập trường cứng rắn của Trung Quốc hiện chỉ là một bước đi của giới lãnh đạo nhằm thu phục lòng dân. Vì từ cuộc chiến tranh gần nhất với Việt Nam vào năm 1979, lãnh đạo Trung Quốc đã nhận ra bài học rằng xâm chiếm chỉ khiến thiệt hại nhiều hơn mà chưa chắc đã hiệu quả. Trong khi nếu có thể thúc đẩy phát triển kinh tế, tập trung khai thác tài nguyên châu Phi, lợi ích đạt được sẽ dễ dàng và an toàn hơn rất nhiều.

Theo Vũ Thành Công
Một Thế giới

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói

Thứ 3, 18/03/2014, 09:33

Theo số liệu của Hiệp hội mì ăn liền thế giới (WINA), Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tổng lượng gói/cốc mì tiêu thụ với 5,4 tỷ đơn vị mỗi năm sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ.

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói
Nội dung nổi bật:

- Người Việt ăn nhiều mì gói: Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tổng lượng gói/cốc mì tiêu thụ với 5,4 tỷ đơn vị mỗi năm sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ. Nếu tính theo số gói mì tiêu thụ trên đầu người, chúng ta đứng thứ 3 với trung bình 56,2 gói mì/người/năm.

- Và ngày càng nhiều hơn: Từ năm 2008 đến 2012, lượng tiêu thụ của chúng ta tăng gần 24%, tương đương với gần 1 tỷ gói, tức là mỗi người ăn thêm khoảng hơn 10 gói trong giai đoạn này. 
 
- Có tốt không? Rất khó để kết luận điều gì đang tạo ra tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp, đến 24% trong 4 năm của mì ăn liền. Có thể do đô thị hóa nhanh, do suy thoái kinh tế hay do ăn nhậu nhiều hơn... Thực tế ấy là nước ta đang ăn thêm nhiều một thứ ít chất dinh dưỡng (thậm chí độc hại) hơn bất kỳ nước nào.



Khi mà một hãng mì gói quảng cáo rằng họ “phục vụ hàng tỷ bữa ăn cho người Việt mỗi năm” thì hẳn ai cũng ý thức được rằng mì ăn liền không hẳn là bữa ăn, nó ít chất dinh dưỡng và chỉ chống lại cái đói. Và tuyên ngôn ấy, không phải điều đáng tự hào.
Theo số liệu của Hiệp hội mì ăn liền thế giới (WINA), Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tổng lượng gói/cốc mì tiêu thụ với 5,4 tỷ đơn vị mỗi năm sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ.Nếu tính theo số gói mì tiêu thụ trên đầu người, chúng ta đứng thứ 3 với trung bình 56,2 gói mì/người/năm, chỉ sau Hàn Quốc và Indonesia. Ở “công xưởng của thế giới”, Trung Quốc, mỗi năm người ta chỉ ăn trung bình hơn 36 gói mì.

Nhưng nếu xét đến tỷ lệ tăng trong nhóm có “truyền thống ăn mì” (không tính đến nhiều nước Âu Mỹ hay Ấn Độ mới được khai phá về món ăn này) thì Việt Nam có tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp trong tiêu thụ: từ năm 2008 đến 2012, lượng tiêu thụ của chúng ta tăng gần 24%, tương đương với gần 1 tỷ gói, tức là mỗi người ăn thêm khoảng hơn 10 gói trong giai đoạn này. 

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói (1)

Trong cùng thời gian, số lượng gói mì được tiêu thụ ở Trung Quốc và Indonesia chỉ tăng 3%, Hàn Quốc và Nhật Bản tăng 5%. Rõ ràng, có vấn đề gì đó ở đây. 

Trước khi xét đến khía cạnh kinh tế, mì ăn liền là một văn hóa. Nếu xét đến việc hai nền kinh tế mạnh và có GDP đầu người rất cao là Nhật Bản và Hàn Quốc cũng tiêu thụ mì khủng khiếp thì dễ nhìn ra khía cạnh này: văn hóa mì gắn với khẩu vị, phong cách sống, nếp sinh hoạt. Nhưng nó tất nhiên cũng là một thứ phản ánh chất lượng sống: mì ăn liền đã mang ý nghĩa ấy ngay từ khi nó ra đời, khi mà nước Nhật nghèo túng thời hậu Thế chiến 2 cần một món ăn rẻ tiền, nhanh chóng để phục vụ cho công cuộc tái thiết, và có thể được tạo ra từ lương thực mà người Mỹ viện trợ.
 
Cho đến hôm nay, nó vẫn được mô tả một cách đầy trang trọng là thứ “vũ khí chống lại nạn đói” trên toàn cầu.

Người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở bất kỳ đâu những tác hại dinh dưỡng của mì ăn liền. Rối loạn chức năng dạ dày (trẻ em ăn mì sẽ bị hạn chế hấp thu chất dinh dưỡng khác), thiếu chất dinh dưỡng, béo phì và tim mạch, lão hóa sớm và có thể dẫn đến ung thư.

Vậy thì ở một nền ẩm thực được ngưỡng mộ bậc nhất trên thế giới, nơi mà thứ được phương Tây gọi là “đồ ăn nhanh”, hoặc là “take-away” (thức ăn mang đi) có thể tìm thấy ở bất kỳ đâu dưới muôn vàn hình thức, nơi đã tạo ra “bánh mi” (một thứ đồ ăn nhanh tiêu biểu) và “pho” (một loại mì gạo) vốn nổi tiếng đến mức có trong từ điển Oxford, hoàn toàn có thể nói rằng dân Việt Nam đã PHẢI ăn thêm mì ăn liền với một lý do nào đó.

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói (2)

Rất khó để kết luận điều gì đang tạo ra tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp, đến 24% trong 4 năm của mì ăn liền. Nhưng có thể dễ dàng gắn nó với việc chất lượng sống của chúng ta đang đi xuống. 

Có thể nó gắn với cuộc suy thoái kinh tế. Những người lao động mất việc đầy rẫy, những bạn sinh viên khó kiếm việc làm thêm,… Dù sao thì, gạt bỏ yếu tố văn hóa khó đo lường, người ta ăn mì ăn liền mục đích đầu tiên là cho đỡ đói. Ăn nhiều mì hơn tức là ít nhiều, người ta đang đói hơn.

Có thể thực tế này cũng gắn với công cuộc đô thị hóa chóng mặt. Nhiều người bỗng buộc phải biến thành cư dân đô thị khi mà chưa hề được chuẩn bị cho điều đó: họ ăn mì vì vấn đề kinh tế, hay là vì áp lực của cuộc sống thành thị, họ làm việc đến tối mịt và về căn nhà thuê một mình. Có thể họ cũng từng có một mảnh vườn rau và gian bếp đun củi ở đâu đó.

Người Việt đang phải ăn thêm mì gói (3)
Có thể đơn thuần là vấn đề thiếu giáo dục/ nhận thức về dinh dưỡng.

Và lạc quan tếu hơn, có khi nào tỷ lệ mì gói tăng nhanh chỉ bởi vì chúng ta đang nhậu nhiều hơn, những vắt mì được cho vào nồi lẩu đang nhiều lên?

Dù thế nào, có một Thực Tế Mì Ăn Liền mà Việt Nam đang phải đối mặt. Thực tế ấy là nước ta đang ăn thêm nhiều một thứ ít chất dinh dưỡng (thậm chí độc hại) hơn bất kỳ nước nào, và bạn hãy nghĩ đến nó khi đun nước ăn mì, bên cạnh những báo cáo lạc quan nào khác về tăng trưởng. 

Thực Tế Mì Ăn Liền xứng đáng được coi là một vấn đề quốc gia. Và cho dù bạn thực sự yêu mì gói, vấn đề ấy cũng cần được giải quyết.


Theo Đức Hoàng
Depplus

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp'

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp


Chẳng mấy thứ trông chán hơn một gói mì ăn liền. Là lựa chọn sau cùng cho một bữa tối, được mua với số lượng lớn và sẵn sàng phục vụ chỉ sau vài phút, mì ăn liền là loại thực phẩm rẻ tiền và chẳng đáng quan tâm. 

Tuy vậy, sự thực là, những đặc tính vô cùng khiêm nhường ấy lại khiến mì ăn liền trở thành một nguồn lực gây ảnh hưởng đến tất cả mọi người trên thế giới.

Chuyện mì ăn liền đi đâu cũng thấy, từ các trường đại học giàu có nhất đến những thành thị nghèo nhất ở các quốc gia đang phát triển, đã hấp dẫn ba nhà nhân chủng học Deborah Gewertz của Đại học Amherst, Frederick Errington của Đại học Trinity, và Tatsuro Fujikura tại Đại học Kyoto. 

Họ quyết định tìm hiểu sự xuất hiện của món ăn này ở Nhật Bản, Hoa Kỳ và New Guinea, tầm quan trọng của mức giá, tính cơ động và bảo quản khô của mì ăn liền. Tất cả được ghi lại trong cuốn sách "Những câu chuyện về mì ăn liền: Sự lên ngôi của một ngành công nghiệp thực phẩm trong thế kỷ hai mốt" (The Noodle Narratives: The Global Rise of an Industrial Food into the Twenty-First Century).

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp' (1)
Có khoảng 100 tỷ gói/cốc mì đã được bán ra trong năm 2012, tức là bình quân mỗi người sẽ ăn 14 gói mì/năm.

Rõ ràng, sự hiện diện khủng khiếp của mì ăn liền gần như rải kín khắp nơi trên thế giới. Năm 2012, theo Hiệp hội Mì ăn liền Thế giới, đã có khoảng 100 tỷ gói/cốc mì đã được bán ra, tức là bình quân mỗi người sẽ ăn 14 gói mì/năm. Các gia vị chua cay bên trong gói mì cũng được gia giảm phù hợp với khẩu vị địa phương từ châu Á cho đến Mexico. 

Một khảo sát tiến hành ở khu dân cư ở Tokyo cho thấy, mì ăn liền đã đánh bại máy vi tính, karaoke và máy nghe nhạc Walkman để trở thành phát minh có ảnh hưởng nhất của Nhật Bản trong thế kỷ 20.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy mì ăn liền có vai trò phức tạp vượt xa khỏi mục đích tìm hiểu ban đầu của họ. Mì ăn liền, theo họ lập luận, là một bộ phận của "vốn lương thực", nó cho phép đói nghèo tồn tại và tạo ra một tầng lớp người tiêu dùng ở dưới đáy của kim tự tháp kinh tế. Đồng thời, mì ăn liền cũng có lợi ích, là cung cấp dưỡng chất giá rẻ cho người nghèo.

Liệu rằng Koki Ando, con trai của người phát minh ra mì ăn liền, có đúng khi tuyên bố rằng sản phẩm này có thể cứu cả thế giới tại Hội nghị thượng đỉnh Mì ăn liền năm 2010? Để tìm câu trả lời, phóng viên tờ Boston Global đã phỏng vấn bà Deborah Gewertz (1 trong 3 nhà nhân chủng học đã tham gia nghiên cứu).

Hỏi: Mì ăn liền có được xem là một "phát minh", thưa bà?

Bà Gewwertz: Người Nhật có món mì ramen truyền thống từ lâu đời. Chúng ta đang nói về món mì ramen thực sự, với các thành phần phức tạp và nước súp được chế biến kỳ công và mất nhiều thời gian với tất cả những nguyên liệu và công thức tinh túy nhất. 

Vào năm 1958, sau chiến tranh, nhiều người đã bị đói... Đây là một phần của huyền thoại được kể trong viện bảo tàng: 

"Một người đàn ông tên Momofuku Ando, khi chứng kiến cảnh những người đồng hương của mình bị đói và ông muốn giúp đỡ họ bằng cách tạo ra một món ăn không tốn kém, bảo quản được lâu, ngon miệng nhưng không mất thời gian chuẩn bị... 

Ông nhớ lại các nguyên tắc làm món tempura*, và sử dụng nguyên tắc chế biến và chiên nhanh của món ăn này để tạo ra món mì ăn liền của mình. Việc cần làm là khiến mì trở nên khô và xốp, bằng cách cho chúng chao qua một bể dầu. Kết quả là mì được hút khô nước rất nhanh.

Ông Ando đã thử nghiệm không mệt mỏi và sau đó bắt đầu kinh doanh món mì ăn liền đầu tiên trên thế giới".

* Tempura là một món ẩm thực của Nhật Bản gồm các loại hải sản, rau, củ tẩm bột mì rán ngập trong dầu. Bột để làm tempura là thứ hỗn hợp nhão của bột mì, lòng trứng gà và nước nguội. Dầu để rán là hỗn hợp dầu ăn thông thường với dầu vừng.


Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp' (2)
Momofuku Ando - "Cha đẻ" của món mì ăn liền.

Tại sao bà quyết định nghiên cứu về mì ăn liền?

Mì ăn liền xuất hiện rất nhiều trong ngành nhân chủng học của chúng tôi. Có thể nói, rất nhiều người dân ở Papua New Guinea, nơi chúng tôi (bà Deborah Gewertz - Đại học Amherst và ông Frederick Errington - Đại học Trinity) đang làm việc từ những năm 60, 70, họ đã, đang ăn mì ăn liền và nói chuyện về mì ăn liền. Có người từng nói: "Nếu không còn mì gói, sẽ chẳng còn chút hi vọng nào".

Điều gì khiến mì ăn liền khác với bất kỳ loại thực phẩm sản xuất hàng loạt nào khác vậy?

Điều thú vị nhất mà chúng tôi nhận thấy là gần như tất cả mọi người trên thế giới đều đã ăn mì ăn liền, vì các lí do khác nhau và với các túi tiền khác nhau. Bởi vậy, trong một vài mối liên kết, mì ăn liền bỗng trở thành một câu chuyện toàn cầu về cách con người chúng ta kết nối với nhau và khác biệt lẫn nhau.

Ý nghĩa của mì ăn liền trên các thị trường khác nhau (mà bà nghiên cứu) có sự khác biệt ra sao?

Ở Nhật Bản, thị trường mì ăn liền đã bị bão hòa. Người Nhật luôn có sẵn món mì ramen thực sự của họ. Vậy mà mỗi năm vẫn có đến 600 chủng loại mì ăn liền mới với lớp vỏ ngoài hào nhoáng được tung ra và giới thiệu vào thị trường này. 

Còn Mỹ là một thị trường cơ bản, một thị trường hàng hóa. Người ta mua mì ăn liền vì chúng có giá rẻ. Có thể kể đến 3 phân khúc ở thị trường mì ăn liền Mỹ.

Phân khúc lớn nhất ở thị trường này dành cho những người nghèo. Họ là những người làm việc sau những quầy bán đồ ăn nhanh và hưởng lương theo giờ. Một người từng trả lời phỏng vấn, rằng ông ta ăn mì gói vào bữa sáng và bữa trưa, nhưng không bao giờ dùng để ăn tối, bởi vì nếu vậy thì thật đáng buồn.

Phân khúc thứ hai là các tù nhân. Họ mua mì ăn liền tại kho lương và trộn chúng với các thành phần hỗn độn khác, từ bánh ngọt, bơ đậu phộng và mứt, để thành phiên bản mì ăn liền có hương vị của tự do. Họ mua chúng vì họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn với món ăn này.

Và phân khúc thứ ba, đương nhiên rồi, các sinh viên đại học... Họ không được nấu nướng trong phòng ký túc và bởi vậy mì gói trở thành món ăn thường ngày không thể thiếu. "Chúng tôi không được phép nấu nướng trong phòng nên chúng tôi úp mì ăn liền và ngắm hoàng hôn. Dường như tôi sống cùng với mì gói".

Và ở Papua New Guinea, mì ăn liền đã đổ bộ từ những năm 80. Thời điểm đó, nhiều người dân đã rời làng mạc để lên thành phố, và rất nhiều trong số đó trở thành những người đói rách. Họ đã không chỉ phụ thuộc vào mì ăn liền, mà họ còn thực sự thích chúng vì lý do khác: Ai cũng có thể bước vào cửa hàng và mua mì gói. Mọi người thực sự thích được trải nghiệm lựa chọn rất nhiều sản phẩm tùy chọn. Điều này đã thay đổi người dân Papua New Guinea, biến họ trở thành những người tiêu dùng.

Sức mạnh toàn cầu của mì ăn liền: 'Kho báu ở dưới đáy Kim tự tháp' (3)
Cuốn sách "Kho báu ở dưới đáy của Kim tự tháp" - C.K. Prahalad: 
"Nếu bạn có thể tìm thấy các sản phẩm dành cho những người ở "dưới đáy kim tự tháp", bạn có thể không kiếm được nhiều tiền từ một vài người, nhưng bạn sẽ kiếm được rất nhiều tiền từ tất cả những người đó". 

Bà nói rằng những người "ở dưới đáy kim tự tháp" được thiết kế là phân khúc thị trường mục tiêu của các nhà sản xuất mì ăn liền. Bà có thể giải thích được chứ?

C.K. Prahalad đã viết một cuốn sách rất có ảnh hưởng mang tên "Kho báu ở dưới đáy của Kim tự tháp" (The Fortune at the Bottom of the Pyramid).

Ông ấy cho rằng, mặc dù người nghèo có rất ít tiền, nhưng tiền của tất cả người nghèo lại là con số lớn. Do đó, nếu bạn có thể tìm thấy các sản phẩm dành cho những người ở "dưới đáy kim tự tháp", bạn có thể không kiếm được nhiều tiền từ một vài người, nhưng bạn sẽ kiếm được rất nhiều tiền từ tất cả những người đó. 

Nếu bạn có thể bán hàng cho những người ở dưới đáy kim tự tháp và cho họ quyền trải nghiệm, lựa chọn và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, họ sẽ làm dịch chuyển nền kinh tế... Và kim tự tháp cũng sẽ dịch chuyển và tiến hóa lên.

Chúng ta thường có xu hướng nghĩ rằng mì ăn liền nằm ở "dưới đáy kim tự tháp", nhưng hãy thay đổi cách nhìn nhận vấn đề rằng: càng nhiều đồ ăn đến từ những nơi khác, càng ít đảm bảo an toàn. 

Vậy tương lại của mì ăn liền là gì?

Tôi nghĩ là mì gói sẽ không thể dừng lại... Có thể thấy rằng những người rất, rất, rất nghèo luôn cần nguồn năng lượng để sống. 

Chúng tôi không cho rằng mì ăn liền sẽ cứu thế giới với bất cứ ý nghĩa nào, nhưng chúng tôi có thể kết luận, một cách khá miễn cưỡng, mì ăn liền mang nhiều điều tốt hơn là có hại đến những người nghèo. Chính xác thì chúng không nuôi dưỡng họ, mà là giúp họ tồn tại.

Kiến Anh
Theo Trí Thức Trẻ/The Boston Global

Kinh Đô nhảy vào làm mì gói: Thêm bát có nát mâm?

 Kinh Đô nhảy vào làm mì gói: Thêm bát có nát mâm?




Dù đã có 50 doanh nghiệp (DN) sản xuất nhưng thị trường hơn 5 tỷ gói mì mỗi năm với mức tăng trưởng 15-20% vẫn luôn thu hút dòng tiền đầu tư. Sự xuất hiện của "tay to" Kinh Đô là một minh chứng của xu hướng này.

Kinh Đô: Giữ bánh, thêm mì
Tại đại hội cổ đông 2013, lãnh đạo Công ty Kinh Đô tuyên bố sẽ tham gia lĩnh vực mỳ gói, dầu ăn và sữa. Đây là giải pháp quan trọng để Công ty tăng trưởng trên 20% một năm. Chia sẻ với báo giới, ông Trần Lệ Nguyên, Tổng giám đốc Công ty Kinh Đô, cho biết, Công ty đang lên kế hoạch chi tiết và nếu không có gì thay đổi, vào tháng 6 tới, mì gói Kinh Đô sẽ có mặt trên thị trường.
Đến quý IV năm nay, dầu ăn thương hiệu Kinh Đô cũng sẽ xuất hiện. Việc tham gia vào hai lĩnh vực này sẽ giúp Công ty đạt doanh thu lên 6.000 tỷ đồng trong năm nay.
Do ra sau nên Kinh Đô sẽ không cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ tầm cỡ, mà sẽ nhắm vào những phân khúc nhỏ hơn. Cùng với việc sản xuất, Kinh Đô củng cố hệ thống phân phối, từ kênh phân phối thực phẩm (bánh khô và bánh tươi) đến kênh phân phối lạnh, với 300 nhà phân phối và 200.000 điểm bán lẻ.
"Hiện nay, thị trường mì gói miền Nam trị giá khoảng 2 tỷ USD/năm, do vậy Kinh Đô vẫn còn nhiều không gian để phát triển và chúng tôi rất tự tin sẽ thành công với các dự án này", ông Trần Lệ Nguyên chia sẻ.
Sự "lấn sân" của Kinh Đô không khiến các DN khác ngạc nhiên bởi sức hút của thị trường này quá lớn. Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội Mì ăn liềnThế giới, Việt Nam được xếp vị trí thứ tư trên thế giới (sau Trung Quốc, Indonesia và Nhật Bản) về tiêu thụ mì gói. Nếu như năm 2009, Việt Nam tiêu thụ khoảng 4,3 tỷ gói mì thì đến năm 2012 đã tăng lên 5,1 tỷ gói và sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Trên thực tế, doanh thu của các DN mì gói liên tục tăng 10-30% mỗi năm. Cụ thể, năm 2011, doanh thu của Acecook tăng 30%. Thương hiệu mì Shin Ramyun của Công ty Nong Shim (Hàn Quốc) tăng từ 27-35% mỗi năm, kể từ năm 2005 đến nay.
Sản lượng tiêu thụ mì ăn liền tại thị trường Việt Nam luôn duy trì tốc độ tăng trưởng đều đặn trong những năm gần đây đã thu hút sự tham gia của nhiều DN. Mặc dù Việt Nam đã có khoảng 50 DN mì ăn liền, sản xuất gần 50 tỷ gói một năm nhưng điều này không cản bước các nhà đầu tư.
Trước Kinh Đô, tháng 7/2012, Tập đoàn mì ăn liền Nissin Foods cũng đã nhảy vào thị trường Việt Nam bằng việc khai trương nhà máy sản xuất mì ăn liền tại Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore II (Bình Dương) với kinh phí đầu tư lên đến 41 triệu USD. Không sản xuất mì như các DN đi trước, Nissin chọn loại mì đặc biệt không chiên.
Sự xuất hiện Nissin Foods cũng khiến các thương hiệu khác ngán ngại. Bởi đây là thương hiệu mì bán chạy số 1 tại Nhật. Tập đoàn đã có 47 nhà máy sản xuất ở 15 quốc gia và tạo ra hơn 1.200 loại mì gói cho thị trường toàn cầu.
Phòng thủ và soán ngôi
Trước sự xuất hiện của những thương hiệu mới, các DN ngành mì gói phải tăng tốc để giữ thị phần. Năm 2012, sau khi Nissin xuất hiện, Vina Acecook đã tăng vốn thêm 10 triệu USD và đưa vào hoạt động hai nhà máy sản xuất mì ăn liền quy mô hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á tại TP.HCM.
Cùng với dây chuyền sản xuất mới, Vina Acecook cũng giới thiệu thương hiệu mì không chiên Mikochi, mì Udon Sưki Sưki. Masan do đầu tư vào nhiều lĩnh vực mới như cà phê, nước uống nên lĩnh vực mì gói có vẻ chựng lại. Tuy nhiên, thương hiệu này vẫn liên tục "dội bom khuyến mãi" và đẩy mạnh phân phối vào các thị trường, đặc biệt là thị trường nông thôn.
Các nghiên cứu cho thấy, dù thị trường có 50 DN sản xuất nhưng chủ yếu tập trung vào các "ông lớn" như Vina Acecook, Asia Foods và Masan. Trong đó, các sản phẩm của Vina Acecook (100% vốn Nhật Bản) đang dẫn đầu với khoảng 50% thị phần.
Tiếp theo là Asia Foods (DN trong nước) chiếm hơn 20% thị phần và thứ ba là Massan. Còn lại một thị phần rất nhỏ chia đều cho các DN cả mới lẫn cũ, trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, ở nhóm này, vẫn có những DN tiềm năng như Uni-President, Miliket...
Ông Trần Bảo Minh, người tạo dựng thương hiệu Mì Gấu Đỏ, từng cho rằng, với mì gói, công nghệ sản xuất của các công ty gần như giống nhau và sự khác biệt được tạo ra chủ yếu bởi chủng loại, giá cả và các chiêu thức quảng cáo chứ không phải ở chính sản phẩm.
Và năm nay, DN mì gói không cạnh tranh về sản phẩm mà dồn lực cho quảng cáo. Hiện nay, ba "ông lớn" Vina Acecook, Asia Foods và Masan vẫn liên tục chiếm các "giờ vàng truyền hình". Tuy nhiên, bên cạnh các thương hiệu này, kênh giờ vàng truyền hình còn có sự "án ngữ" của tân binh Nissin.
Chưa có thống kê về kinh phí mà các DN này đầu tư cho truyền thông nhưng theo đại diện một công ty nghiên cứu thị trường là không hề nhỏ. Bởi, Vina Acecook vừa kết thúc TVC mì Udon Sưki Sưki thì hình ảnh quảng cáo mì không chiên Mikochi, Hảo Hảo xuất hiện. Masan cũng liên tục tung Omachi trên truyền hình. Xen lãn vào những TVC của những thương hiệu này là những thước phim về Nissin.
Theo các nhà phân tích, dù thị trường có cạnh tranh cỡ nào thì các DN cũng khó "soán ngôi" của Acecook vì DN này đang sở hữu trên 700 nhà phân phối, phủ kín 100% thị trường Việt Nam. Với 11 nhà máy sản xuất, mỗi năm công ty này thu về hơn 4.500 tỷ đồng.
Theo Minh Hào
Doanh nhân Sài Gòn

Các đại gia công nghệ Mỹ nắm giữ hàng tấn tiền mặt để làm gì?

Các đại gia công nghệ Mỹ nắm giữ hàng tấn tiền mặt để làm gì?

















Những công ty công nghệ này đổ hơn 100 tỷ đô vào trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ, theo một báo cáo tuần trước của Cục điều tra Báo chí, một tổ chức phi lợi nhuận tư nhân ở London. Theo luật thuế của Hoa Kỳ, số lượng lớn tiền mặt này đang được nắm giữ tại các công ty con ở nước ngoài và nhiều khả năng là số tiền mặt đó được dùng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ.

Nhóm điều tra đã sử dụng dữ liệu từ những nguồn báo cáo hàng năm mà các công ty này được yêu cầu gửi tới Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái. Tổng cộng, Apple, Microsoft, Google và Cisco đang có 255 tỷ USD tiền mặt ở nước ngoài (80% tổng tiền mà các công ty này nắm giữ).

Các đại gia công nghệ Mỹ nắm giữ hàng tấn tiền mặt để làm gì? (1)
Tiền tại các công ty con ở nước ngoài (màu xám) và tổng tiền (toàn bộ cột ngang) của 4 công ty công nghệ (tỷ USD).

Nếu những doanh nghiệp này đang mua nợ chính phủ Hoa Kỳ bằng số tiền đó, thì những người dân đóng thuế cho chính phủ đang phải gánh nợ cho chính những công ty mà họ đã bỏ hàng tỷ đô để mua iPad, các phần mềm và thiết bị định tuyến.

"Điều đó có nghĩa là những người nộp thuế ở Hoa Kỳ đang trợ giúp đắc lực cho các công ty công nghệ sở tại né thuế", ông Nick Mathiason, tác giả báo cáo của Cục Điều tra Báo chí cho biết.

Tuy nhiên theo các chuyên gia thuế quốc tế, vấn đề này chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

"Các công ty Hoa Kỳ có thể trì hoãn việc nộp thuế thu nhập bằng cách duy trì thu nhập ở nước ngoài và tiếp tục trì hoãn bằng cách mua Trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ", Michael Knoll , một giáo sư tại Đại học Luật Pennsylvania cho biết.

Lãi suất trái phiếu sẽ hạ khi các nhà đầu tư đổ tiền mua, nhờ đó việc mua trái phiếu có thể giúp neo lãi suất ở mức thấp.

Một số người lý luận rằng mức thuế suất 35% đối với thu nhập từ nước ngoài nên hạ xuống để khuyến khích các công ty Hoa Kỳ đem tiền nước. Số khác lại cho rằng Quốc hội nên quy định mức phạt với các công ty chuyển lợi nhuận ra khỏi biên giới Hoa Kỳ. 

Các đại gia công nghệ Mỹ nắm giữ hàng tấn tiền mặt để làm gì? (2)

Những gì mà Apple , Microsoft, Google và Cisco đang làm là hoàn toàn hợp pháp. 

Phát ngôn viên của Apple cho biết, CEO Tim Cook đã nói với Thượng viện Hoa Kỳ hồi năm ngoái rằng, "với tinh thần thượng tôn pháp luật", Apple đã nộp thuế cho Liên bang lên đến 6 tỷ USD năm 2012.

Trả lời CNNMoney, Google nói rằng "nếu các chính trị gia không thích điều luật nào, họ có đủ quyền lực để thay đổi điều luật đó".

Đại diện của Microsoft lại đưa ra lời phát ngôn năm 2012 của ông Bill Sample, phó chủ tịch phụ trách thuế toàn cầu. "Chúng tôi tin rằng chính phủ Mỹ nên cải cách các quy định về thuế quan để hỗ trợ các doanh nghiệp Hoa Kỳ tiềm năng có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế và đầu tư hơn nữa tại chính quốc", vị này nói.

Scott Gerber, phát ngôn viên của Cisco cho biết "phần còn lại của thế giới đang khuyến khích các doanh nghiệp mang thu nhập từ nước ngoài hồi hương với thuế suất rất thấp" và Mỹ "nên tạo ra sân chơi bình đẳng, hiện đại hóa hệ thống và tạo nên thị trường cạnh tranh hơn với phần còn lại của thế giới".

Tuy nhiên tác giả báo cáo Nick Mathiason nghĩ rằng các công ty đang bắt tay thỏa thuận với nhau.

"Đây là bằng chứng rõ ràng về vai trò của hệ thống thuế trong việc cải thiện các nhu cầu thiết yếu mà chính phủ đang đầu tư kinh phí gồm dịch vụ công, cơ sở hạ tầng và đầu tư sản xuất", ông nói. 

"Tôi nghĩ rằng người dân Hoa Kỳ sẽ bị sốc khi biết chính phủ của mình đang thanh toán hàng trăm tỷ USD tiền lãi trái phiếu cho các đại gia công nghệ khổng lồ, những tổ chức đang nắm giữ lượng lớn tiền mặt ở nước ngoài được tạo ra từ thuế".