Showing posts with label vietnam. Show all posts
Showing posts with label vietnam. Show all posts
Tuesday, 20 May 2014
Tuesday, 18 March 2014
Người Việt đang phải ăn thêm mì gói
Thứ 3, 18/03/2014, 09:33
Theo số liệu của Hiệp hội mì ăn liền thế giới (WINA), Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tổng lượng gói/cốc mì tiêu thụ với 5,4 tỷ đơn vị mỗi năm sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ.
Nội dung nổi bật:
- Người Việt ăn nhiều mì gói: Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tổng lượng gói/cốc mì tiêu thụ với 5,4 tỷ đơn vị mỗi năm sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ. Nếu tính theo số gói mì tiêu thụ trên đầu người, chúng ta đứng thứ 3 với trung bình 56,2 gói mì/người/năm.
- Và ngày càng nhiều hơn: Từ năm 2008 đến 2012, lượng tiêu thụ của chúng ta tăng gần 24%, tương đương với gần 1 tỷ gói, tức là mỗi người ăn thêm khoảng hơn 10 gói trong giai đoạn này.
- Có tốt không? Rất khó để kết luận điều gì đang tạo ra tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp, đến 24% trong 4 năm của mì ăn liền. Có thể do đô thị hóa nhanh, do suy thoái kinh tế hay do ăn nhậu nhiều hơn... Thực tế ấy là nước ta đang ăn thêm nhiều một thứ ít chất dinh dưỡng (thậm chí độc hại) hơn bất kỳ nước nào.
Khi mà một hãng mì gói quảng cáo rằng họ “phục vụ hàng tỷ bữa ăn cho người Việt mỗi năm” thì hẳn ai cũng ý thức được rằng mì ăn liền không hẳn là bữa ăn, nó ít chất dinh dưỡng và chỉ chống lại cái đói. Và tuyên ngôn ấy, không phải điều đáng tự hào.
Theo số liệu của Hiệp hội mì ăn liền thế giới (WINA), Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tổng lượng gói/cốc mì tiêu thụ với 5,4 tỷ đơn vị mỗi năm sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ.Nếu tính theo số gói mì tiêu thụ trên đầu người, chúng ta đứng thứ 3 với trung bình 56,2 gói mì/người/năm, chỉ sau Hàn Quốc và Indonesia. Ở “công xưởng của thế giới”, Trung Quốc, mỗi năm người ta chỉ ăn trung bình hơn 36 gói mì.
Nhưng nếu xét đến tỷ lệ tăng trong nhóm có “truyền thống ăn mì” (không tính đến nhiều nước Âu Mỹ hay Ấn Độ mới được khai phá về món ăn này) thì Việt Nam có tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp trong tiêu thụ: từ năm 2008 đến 2012, lượng tiêu thụ của chúng ta tăng gần 24%, tương đương với gần 1 tỷ gói, tức là mỗi người ăn thêm khoảng hơn 10 gói trong giai đoạn này.
Trong cùng thời gian, số lượng gói mì được tiêu thụ ở Trung Quốc và Indonesia chỉ tăng 3%, Hàn Quốc và Nhật Bản tăng 5%. Rõ ràng, có vấn đề gì đó ở đây.
Trước khi xét đến khía cạnh kinh tế, mì ăn liền là một văn hóa. Nếu xét đến việc hai nền kinh tế mạnh và có GDP đầu người rất cao là Nhật Bản và Hàn Quốc cũng tiêu thụ mì khủng khiếp thì dễ nhìn ra khía cạnh này: văn hóa mì gắn với khẩu vị, phong cách sống, nếp sinh hoạt. Nhưng nó tất nhiên cũng là một thứ phản ánh chất lượng sống: mì ăn liền đã mang ý nghĩa ấy ngay từ khi nó ra đời, khi mà nước Nhật nghèo túng thời hậu Thế chiến 2 cần một món ăn rẻ tiền, nhanh chóng để phục vụ cho công cuộc tái thiết, và có thể được tạo ra từ lương thực mà người Mỹ viện trợ.
Nhưng nếu xét đến tỷ lệ tăng trong nhóm có “truyền thống ăn mì” (không tính đến nhiều nước Âu Mỹ hay Ấn Độ mới được khai phá về món ăn này) thì Việt Nam có tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp trong tiêu thụ: từ năm 2008 đến 2012, lượng tiêu thụ của chúng ta tăng gần 24%, tương đương với gần 1 tỷ gói, tức là mỗi người ăn thêm khoảng hơn 10 gói trong giai đoạn này.
Trong cùng thời gian, số lượng gói mì được tiêu thụ ở Trung Quốc và Indonesia chỉ tăng 3%, Hàn Quốc và Nhật Bản tăng 5%. Rõ ràng, có vấn đề gì đó ở đây.
Trước khi xét đến khía cạnh kinh tế, mì ăn liền là một văn hóa. Nếu xét đến việc hai nền kinh tế mạnh và có GDP đầu người rất cao là Nhật Bản và Hàn Quốc cũng tiêu thụ mì khủng khiếp thì dễ nhìn ra khía cạnh này: văn hóa mì gắn với khẩu vị, phong cách sống, nếp sinh hoạt. Nhưng nó tất nhiên cũng là một thứ phản ánh chất lượng sống: mì ăn liền đã mang ý nghĩa ấy ngay từ khi nó ra đời, khi mà nước Nhật nghèo túng thời hậu Thế chiến 2 cần một món ăn rẻ tiền, nhanh chóng để phục vụ cho công cuộc tái thiết, và có thể được tạo ra từ lương thực mà người Mỹ viện trợ.
Cho đến hôm nay, nó vẫn được mô tả một cách đầy trang trọng là thứ “vũ khí chống lại nạn đói” trên toàn cầu.
Người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở bất kỳ đâu những tác hại dinh dưỡng của mì ăn liền. Rối loạn chức năng dạ dày (trẻ em ăn mì sẽ bị hạn chế hấp thu chất dinh dưỡng khác), thiếu chất dinh dưỡng, béo phì và tim mạch, lão hóa sớm và có thể dẫn đến ung thư.
Vậy thì ở một nền ẩm thực được ngưỡng mộ bậc nhất trên thế giới, nơi mà thứ được phương Tây gọi là “đồ ăn nhanh”, hoặc là “take-away” (thức ăn mang đi) có thể tìm thấy ở bất kỳ đâu dưới muôn vàn hình thức, nơi đã tạo ra “bánh mi” (một thứ đồ ăn nhanh tiêu biểu) và “pho” (một loại mì gạo) vốn nổi tiếng đến mức có trong từ điển Oxford, hoàn toàn có thể nói rằng dân Việt Nam đã PHẢI ăn thêm mì ăn liền với một lý do nào đó.
Rất khó để kết luận điều gì đang tạo ra tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp, đến 24% trong 4 năm của mì ăn liền. Nhưng có thể dễ dàng gắn nó với việc chất lượng sống của chúng ta đang đi xuống.
Có thể nó gắn với cuộc suy thoái kinh tế. Những người lao động mất việc đầy rẫy, những bạn sinh viên khó kiếm việc làm thêm,… Dù sao thì, gạt bỏ yếu tố văn hóa khó đo lường, người ta ăn mì ăn liền mục đích đầu tiên là cho đỡ đói. Ăn nhiều mì hơn tức là ít nhiều, người ta đang đói hơn.
Có thể thực tế này cũng gắn với công cuộc đô thị hóa chóng mặt. Nhiều người bỗng buộc phải biến thành cư dân đô thị khi mà chưa hề được chuẩn bị cho điều đó: họ ăn mì vì vấn đề kinh tế, hay là vì áp lực của cuộc sống thành thị, họ làm việc đến tối mịt và về căn nhà thuê một mình. Có thể họ cũng từng có một mảnh vườn rau và gian bếp đun củi ở đâu đó.
Có thể đơn thuần là vấn đề thiếu giáo dục/ nhận thức về dinh dưỡng.
Và lạc quan tếu hơn, có khi nào tỷ lệ mì gói tăng nhanh chỉ bởi vì chúng ta đang nhậu nhiều hơn, những vắt mì được cho vào nồi lẩu đang nhiều lên?
Dù thế nào, có một Thực Tế Mì Ăn Liền mà Việt Nam đang phải đối mặt. Thực tế ấy là nước ta đang ăn thêm nhiều một thứ ít chất dinh dưỡng (thậm chí độc hại) hơn bất kỳ nước nào, và bạn hãy nghĩ đến nó khi đun nước ăn mì, bên cạnh những báo cáo lạc quan nào khác về tăng trưởng.
Thực Tế Mì Ăn Liền xứng đáng được coi là một vấn đề quốc gia. Và cho dù bạn thực sự yêu mì gói, vấn đề ấy cũng cần được giải quyết.
Người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở bất kỳ đâu những tác hại dinh dưỡng của mì ăn liền. Rối loạn chức năng dạ dày (trẻ em ăn mì sẽ bị hạn chế hấp thu chất dinh dưỡng khác), thiếu chất dinh dưỡng, béo phì và tim mạch, lão hóa sớm và có thể dẫn đến ung thư.
Vậy thì ở một nền ẩm thực được ngưỡng mộ bậc nhất trên thế giới, nơi mà thứ được phương Tây gọi là “đồ ăn nhanh”, hoặc là “take-away” (thức ăn mang đi) có thể tìm thấy ở bất kỳ đâu dưới muôn vàn hình thức, nơi đã tạo ra “bánh mi” (một thứ đồ ăn nhanh tiêu biểu) và “pho” (một loại mì gạo) vốn nổi tiếng đến mức có trong từ điển Oxford, hoàn toàn có thể nói rằng dân Việt Nam đã PHẢI ăn thêm mì ăn liền với một lý do nào đó.
Rất khó để kết luận điều gì đang tạo ra tỷ lệ tăng nhanh khủng khiếp, đến 24% trong 4 năm của mì ăn liền. Nhưng có thể dễ dàng gắn nó với việc chất lượng sống của chúng ta đang đi xuống.
Có thể nó gắn với cuộc suy thoái kinh tế. Những người lao động mất việc đầy rẫy, những bạn sinh viên khó kiếm việc làm thêm,… Dù sao thì, gạt bỏ yếu tố văn hóa khó đo lường, người ta ăn mì ăn liền mục đích đầu tiên là cho đỡ đói. Ăn nhiều mì hơn tức là ít nhiều, người ta đang đói hơn.
Có thể thực tế này cũng gắn với công cuộc đô thị hóa chóng mặt. Nhiều người bỗng buộc phải biến thành cư dân đô thị khi mà chưa hề được chuẩn bị cho điều đó: họ ăn mì vì vấn đề kinh tế, hay là vì áp lực của cuộc sống thành thị, họ làm việc đến tối mịt và về căn nhà thuê một mình. Có thể họ cũng từng có một mảnh vườn rau và gian bếp đun củi ở đâu đó.
Và lạc quan tếu hơn, có khi nào tỷ lệ mì gói tăng nhanh chỉ bởi vì chúng ta đang nhậu nhiều hơn, những vắt mì được cho vào nồi lẩu đang nhiều lên?
Dù thế nào, có một Thực Tế Mì Ăn Liền mà Việt Nam đang phải đối mặt. Thực tế ấy là nước ta đang ăn thêm nhiều một thứ ít chất dinh dưỡng (thậm chí độc hại) hơn bất kỳ nước nào, và bạn hãy nghĩ đến nó khi đun nước ăn mì, bên cạnh những báo cáo lạc quan nào khác về tăng trưởng.
Thực Tế Mì Ăn Liền xứng đáng được coi là một vấn đề quốc gia. Và cho dù bạn thực sự yêu mì gói, vấn đề ấy cũng cần được giải quyết.
Theo Đức Hoàng
Depplus
Kinh Đô nhảy vào làm mì gói: Thêm bát có nát mâm?
Dù đã có 50 doanh nghiệp (DN) sản xuất nhưng thị trường hơn 5 tỷ gói mì mỗi năm với mức tăng trưởng 15-20% vẫn luôn thu hút dòng tiền đầu tư. Sự xuất hiện của "tay to" Kinh Đô là một minh chứng của xu hướng này.
Kinh Đô: Giữ bánh, thêm mì
Ông Trần Bảo Minh, người tạo dựng thương hiệu Mì Gấu Đỏ, từng cho rằng, với mì gói, công nghệ sản xuất của các công ty gần như giống nhau và sự khác biệt được tạo ra chủ yếu bởi chủng loại, giá cả và các chiêu thức quảng cáo chứ không phải ở chính sản phẩm.
Tại đại hội cổ đông 2013, lãnh đạo Công ty Kinh Đô tuyên bố sẽ tham gia lĩnh vực mỳ gói, dầu ăn và sữa. Đây là giải pháp quan trọng để Công ty tăng trưởng trên 20% một năm. Chia sẻ với báo giới, ông Trần Lệ Nguyên, Tổng giám đốc Công ty Kinh Đô, cho biết, Công ty đang lên kế hoạch chi tiết và nếu không có gì thay đổi, vào tháng 6 tới, mì gói Kinh Đô sẽ có mặt trên thị trường.
Đến quý IV năm nay, dầu ăn thương hiệu Kinh Đô cũng sẽ xuất hiện. Việc tham gia vào hai lĩnh vực này sẽ giúp Công ty đạt doanh thu lên 6.000 tỷ đồng trong năm nay.
Do ra sau nên Kinh Đô sẽ không cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ tầm cỡ, mà sẽ nhắm vào những phân khúc nhỏ hơn. Cùng với việc sản xuất, Kinh Đô củng cố hệ thống phân phối, từ kênh phân phối thực phẩm (bánh khô và bánh tươi) đến kênh phân phối lạnh, với 300 nhà phân phối và 200.000 điểm bán lẻ.
"Hiện nay, thị trường mì gói miền Nam trị giá khoảng 2 tỷ USD/năm, do vậy Kinh Đô vẫn còn nhiều không gian để phát triển và chúng tôi rất tự tin sẽ thành công với các dự án này", ông Trần Lệ Nguyên chia sẻ.
Sự "lấn sân" của Kinh Đô không khiến các DN khác ngạc nhiên bởi sức hút của thị trường này quá lớn. Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội Mì ăn liềnThế giới, Việt Nam được xếp vị trí thứ tư trên thế giới (sau Trung Quốc, Indonesia và Nhật Bản) về tiêu thụ mì gói. Nếu như năm 2009, Việt Nam tiêu thụ khoảng 4,3 tỷ gói mì thì đến năm 2012 đã tăng lên 5,1 tỷ gói và sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Trên thực tế, doanh thu của các DN mì gói liên tục tăng 10-30% mỗi năm. Cụ thể, năm 2011, doanh thu của Acecook tăng 30%. Thương hiệu mì Shin Ramyun của Công ty Nong Shim (Hàn Quốc) tăng từ 27-35% mỗi năm, kể từ năm 2005 đến nay.
Sản lượng tiêu thụ mì ăn liền tại thị trường Việt Nam luôn duy trì tốc độ tăng trưởng đều đặn trong những năm gần đây đã thu hút sự tham gia của nhiều DN. Mặc dù Việt Nam đã có khoảng 50 DN mì ăn liền, sản xuất gần 50 tỷ gói một năm nhưng điều này không cản bước các nhà đầu tư.
Trước Kinh Đô, tháng 7/2012, Tập đoàn mì ăn liền Nissin Foods cũng đã nhảy vào thị trường Việt Nam bằng việc khai trương nhà máy sản xuất mì ăn liền tại Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore II (Bình Dương) với kinh phí đầu tư lên đến 41 triệu USD. Không sản xuất mì như các DN đi trước, Nissin chọn loại mì đặc biệt không chiên.
Sự xuất hiện Nissin Foods cũng khiến các thương hiệu khác ngán ngại. Bởi đây là thương hiệu mì bán chạy số 1 tại Nhật. Tập đoàn đã có 47 nhà máy sản xuất ở 15 quốc gia và tạo ra hơn 1.200 loại mì gói cho thị trường toàn cầu.
Phòng thủ và soán ngôi
Trước sự xuất hiện của những thương hiệu mới, các DN ngành mì gói phải tăng tốc để giữ thị phần. Năm 2012, sau khi Nissin xuất hiện, Vina Acecook đã tăng vốn thêm 10 triệu USD và đưa vào hoạt động hai nhà máy sản xuất mì ăn liền quy mô hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á tại TP.HCM.
Cùng với dây chuyền sản xuất mới, Vina Acecook cũng giới thiệu thương hiệu mì không chiên Mikochi, mì Udon Sưki Sưki. Masan do đầu tư vào nhiều lĩnh vực mới như cà phê, nước uống nên lĩnh vực mì gói có vẻ chựng lại. Tuy nhiên, thương hiệu này vẫn liên tục "dội bom khuyến mãi" và đẩy mạnh phân phối vào các thị trường, đặc biệt là thị trường nông thôn.
Các nghiên cứu cho thấy, dù thị trường có 50 DN sản xuất nhưng chủ yếu tập trung vào các "ông lớn" như Vina Acecook, Asia Foods và Masan. Trong đó, các sản phẩm của Vina Acecook (100% vốn Nhật Bản) đang dẫn đầu với khoảng 50% thị phần.
Tiếp theo là Asia Foods (DN trong nước) chiếm hơn 20% thị phần và thứ ba là Massan. Còn lại một thị phần rất nhỏ chia đều cho các DN cả mới lẫn cũ, trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, ở nhóm này, vẫn có những DN tiềm năng như Uni-President, Miliket...
Và năm nay, DN mì gói không cạnh tranh về sản phẩm mà dồn lực cho quảng cáo. Hiện nay, ba "ông lớn" Vina Acecook, Asia Foods và Masan vẫn liên tục chiếm các "giờ vàng truyền hình". Tuy nhiên, bên cạnh các thương hiệu này, kênh giờ vàng truyền hình còn có sự "án ngữ" của tân binh Nissin.
Chưa có thống kê về kinh phí mà các DN này đầu tư cho truyền thông nhưng theo đại diện một công ty nghiên cứu thị trường là không hề nhỏ. Bởi, Vina Acecook vừa kết thúc TVC mì Udon Sưki Sưki thì hình ảnh quảng cáo mì không chiên Mikochi, Hảo Hảo xuất hiện. Masan cũng liên tục tung Omachi trên truyền hình. Xen lãn vào những TVC của những thương hiệu này là những thước phim về Nissin.
Theo các nhà phân tích, dù thị trường có cạnh tranh cỡ nào thì các DN cũng khó "soán ngôi" của Acecook vì DN này đang sở hữu trên 700 nhà phân phối, phủ kín 100% thị trường Việt Nam. Với 11 nhà máy sản xuất, mỗi năm công ty này thu về hơn 4.500 tỷ đồng.
Theo Minh Hào
Doanh nhân Sài Gòn
Đại gia - chân dài: Chuẩn mực đáng lo của giới thượng lưu mới
"Trong khi những cuộc mua bán dâm trá hình cao cấp của các đại gia, chân dài, quan chức... được chấp nhận như một chuẩn mực của giới thượng lưu mới, thì người ta kỳ thị, lên án, xua đuổi, đăng lên mặt báo ảnh các cô gái bán dâm bình dân bị gom túm tụm lại như những kẻ ăn cắp vặt. " – TS Đặng Hoàng Giang, Phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Cộng đồng và Nghiên cứu Phát triển (CECODES), chia sẻ.
Những năm gần đây, chính sách của Việt Nam đối với quản lý hoạt động mua bán dâm đã có nhiều tiến bộ, tư duy quản lý mại dâm cũng đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, hợp pháp hoá mại dâm ở Việt Nam vẫn còn đang là một đề tài gây nhiều tranh cãi.
Nghề mại dâm được coi là một trong những nghề cổ xưa nhất của xã hội. Ngay cả ở những xã hội nghiêm khắc nhất, mại dâm vẫn tồn tại. Vậy câu chuyện quản lý mại dâm nên được nhìn nhận dưới góc độ nào, theo anh?
Chúng ta nên nhìn nhận mại dâm trên hai phạm trù: Thứ nhất là phạm trù đạo đức, thứ hai là phạm trù quản lý xã hội. Trên khía cạnh đạo đức, nhiều người phản đối mại dâm vì cho rằng tình dục phải luôn gắn với tình yêu, nó là cái chỉ có thể trao tặng nhau, chứ không thể đem ra mua bán được. Rằng khi mua bán tình dục thì chúng ta chỉ còn lại phần “con”, chứ không còn phần “người” nữa.
Quan điểm này rất lãng mạn, nhưng đáng tiếc nó không thực tế. Đòi hỏi tình dục phải gắn liền với tình yêu thì cũng giống như đòi hỏi hôn nhân luôn phải gắn với tình yêu vậy. Nếu bắt hôn nhân phải luôn đi cùng tình yêu thì có lẽ phải giải thể hơn nửa các cặp vợ chồng hiện nay. Rồi nếu lại bắt là hôn nhân phải đi kèm với tình dục, thì lại phải giải thể thêm một nửa trong số những hôn nhân còn lại.
Khía cạnh đạo đức của mại dâm hiện nay không còn là đề tài để tranh cãi ở phần lớn các nước - người trưởng thành và không bị ép buộc thì có quyền tự chủ về thân thể, và có lựa chọn cá nhân. Điều mà các quốc gia quan tâm hơn là các hệ luỵ xã hội như chuyện bóc lột hay buôn bán người, các bệnh tình dục, hay nạn bạo hành. Đây là những vấn đề hay đi kèm với mại dâm. Làm thế nào để giải quyết được chúng?
Câu hỏi này tương đối phức tạp, và các quốc gia khác nhau đi theo các mô hình khác nhau. Ở Đức, Hà Lan, hay Singapore, là cho phép hoàn toàn, ở đó những người bán dâm được công khai, có thẻ hành nghề, trả thuế, được bảo hiểm y tế, được lập hội đoàn… Có nơi cấm hoàn toàn, như ở Mỹ, Trung Quốc, hay Nga, đi kèm là xử phạt hành chính hay cho vào trại lao động như Việt Nam đã làm trong quá khứ.
Giữa hai cực đó thì còn có rất nhiều sắc thái khác nhau. Có quốc gia như Anh thì cho phép mại dâm nhưng không cho phép các hoạt động môi giới, lập nhà chứa, để hạn chế việc kiếm lợi nhuận trên lưng người bán dâm. (Nhà chứa được định nghĩa là một nơi có hai hoặc nhiều hơn người hoạt động bán dâm). Thuỵ Điển, Na Uy và Iceland lại đi theo mô hình coi hành động bán dâm là không phạm pháp, nhưng mua dâm thì có - khách hàng, chứ không phải người bán dâm, là người bị coi là phạm tội.
Thực tế, không có một mô hình nào tối ưu có thể áp dụng cho mọi quốc gia. Mỗi nước đều phải thử và tìm ra con đường đi riêng của mình, và cần luôn theo dõi, khảo sát, đánh giá tác động để điều chỉnh.
Những năm gần đây, mại dâm đồng tính nam gia tăng nhanh tại Việt Nam, đặc biệt tại các đô thị lớn. Theo anh, nguyên nhân của tình trạng này là do đâu? Liệu việc thừa nhận quyền được kết hôn của người đồng tính có giảm được hiện trạng này hay không?
Theo một khảo sát của Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội năm 2012 thì có tới 14% người bán dâm nam chọn công việc này vì họ muốn thoả mãn nhu cầu tình dục của mình (Con số này chỉ là 1% ở người bán dâm nữ, ngược lại có tới 17% người bán dâm nữ đi vào con đường này do trục trặc trong quan hệ với gia đình). Qua đó, chúng ta có thể cho rằng nếu người đồng tính nam được công khai các quan hệ của mình, thậm chí được kết hôn, và không bị xã hội kỳ thị, thì con số 14% kia sẽ giảm xuống.
Một nhận xét khác là hồi đầu thế kỷ 20, tỷ lệ nam thanh niên Mỹ tìm tới gái bán dâm để có sinh hoạt tình dục khá cao, vì xã hội Mỹ hồi đó không chấp nhận tình dục trước hôn nhân. Sau này, khi xã hội cởi mở hơn, nhu cầu sinh hoạt với gái mại dâm của thanh niên mới lớn ít đi. Có thể hình dung là chuyện tương tự đang xảy ra với thanh niên nông thôn Việt Nam, nơi mà tình dục trước hôn nhân còn chưa phổ biến.
TS Đặng Hoàng Giang, Phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Cộng đồng và Nghiên cứu Phát triển (CECODES)
Quay trở lại câu chuyện quản lý mại dâm, liệu mô hình nào phù hợp với Việt Nam?
Thực tiễn nhiều năm ở Việt Nam đã chỉ ra là cấm đoán, phạt tiền, bắt vào trại lao động là không hiệu quả. Không những thế, cấm đoán còn đẩy những người bán dâm vào bóng tối, họ không dám tới báo công an khi bị bạo hành, quịt tiền, bị bảo kê bóc lột, hay khi rơi vào một đường dây buôn người. Chính những bất cập này đã khiến một số nơi như Đà Nẵng hay TP Hồ Chí Minh đưa ra đề xuất thay đổi.
Mô hình của Thuỵ Điển - coi người mua dâm, chứ không phải người bán dâm, là phạm pháp - theo tôi là không khả thi ở Việt Nam. Thật khó mà hình dung được là lực lượng công an sẽ công tâm và liêm chính làm chuyện này. Rồi người ta sẽ tuyên bố là ở Đồ Sơn không có người mua dâm, giống như họ đã tuyên bố là ở Đồ Sơn không có người bán dâm vậy.
Năm ngoái, chính quyền thành phố Zurich, Thuỵ Sĩ, đã dùng tiền thuế của dân để dựng lên một số phòng bằng gỗ để người bán dâm có thể tiếp khách trong đó, miễn phí. Mỗi phòng có một poster khuyến cáo dùng bao cao su, một phòng tắm nhỏ, và một nút báo động để người bán dâm có thể báo cảnh sát khi cần.
Chúng ta chưa có điều kiện kinh tế để làm giống Thuỵ Sĩ, nhưng điều đầu tiên có thể thử nghiệm là bỏ các hình thức phạt hành chính, chấm dứt tình trạng chạy trốn, chui lủi của người bán dâm, khuyến khích họ tìm tới các nhà chức trách và công an khi có vấn đề.
Ngoài ra, cho phép họ thành lập những nhóm, tổ, hỗ trợ lẫn nhau, tạo ra điều kiện làm việc an toàn hơn, ví dụ gây sức ép lên khách hàng trong việc dùng bao cao su. Thông qua các tổ chức Phi chính phủ (NGO) cung cấp tư vấn tâm lý, tạo điều kiện cho người bán dâm chuyển nghề nếu họ mong muốn, phát hiện và triệt phá các đường dây bảo kê và buôn bán người.
Để làm được những điều trên, điều quan trọng nhất là thay đổi thái độ trong dư luận.
Như vậy, câu chuyện cấm hay không cấm, hợp thức hay không hợp thức phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức chung của cả xã hội?
Chúng ta nên chấm dứt tình trạng đạo đức giả hiện nay trong xã hội. Ngày ngày dư luận và báo chí háo hức, say sưa theo dõi những câu chuyện của các đại gia và chân dài. Đại gia mà không có chân dài thì bị coi là không có đẳng cấp, chân dài mà không đi với đại gia thì bị coi là bất bình thường.
Rồi việc các quan chức chu cấp nhà cửa, xe cộ, hàng hiệu, cho bồ nhí, vợ bé cũng được coi là hết sức bình thường. Trong khi những cuộc mua bán dâm trá hình ở mức cao cấp này được chấp nhận như một chuẩn mực của giới thượng lưu mới, thì người ta kỳ thị, lên án, xua đuổi, đăng lên mặt báo ảnh các cô gái bán dâm bình dân bị gom túm tụm lại như những kẻ ăn cắp vặt.
Sự khác nhau giữa hai nhóm này chỉ là ở chỗ những người bán dâm cao cấp có nhiều “vốn cơ thể” hơn, do họ có điều kiện tiếp cận các dịch vụ spa, thẩm mỹ viện, cũng như đầu tư cho quần áo, trang sức, kiểu tóc… Nhóm này cũng có “vốn văn hóa” cao hơn, cho phép họ có khả năng di chuyển và giao tiếp trong môi trường khách sạn hay nhà hàng sang trọng. Những người bán dâm bình dân không có điều kiện để phát triển cả hai loại vốn này.
Tương tự, ở Trung Quốc, các nhà nghiên cứu xã hội đưa ra tới 7 bậc khác nhau để phân loại đẳng cấp của những người bán dâm. Bậc một, cao nhất, là các vợ bé của các đại gia và quan chức. Bậc hai là các “vợ kèm”, những cô gái đi theo một khách hàng giàu có trong một thời gian nhất định, ví dụ trong một chuyến công tác, nhưng chưa lọt được vào bậc một.
Ba bậc tiếp theo nằm trong ngành công nghiệp giải trí: những cô gái làm việc trong các karaoke, quán bar, khách sạn, tiệm massage v.v… Bậc sáu là những người bán dâm đứng đường, và bậc bảy là người bán dâm phục vụ người lao động nhập cư. Các vợ bé và “vợ kèm” được chu cấp bằng tiền tham nhũng, giống như ở Việt Nam, mà hai anh em nhà họ Dương là ví dụ nhãn tiền gần đây nhất.
Ít ra thì những người bán dâm tự nguyện, dù hài lòng hay không với cuộc sống của mình, đều tự nhận rằng đó là lựa chọn của chính họ, và họ tự chịu trách nhiệm với bản thân, không đổ lỗi cho ai.
Trong cuốn “Tình dục và công bằng xã hội”, giáo sư Martha Nussbaum của Đại học Chicago viết, “Tất cả chúng ta, trừ những người rất giàu có và những người thất nghiệp, đều kiếm tiền từ việc sự dụng cơ thể của mình. Giáo sư, công nhân, luật sư, ca sĩ opera, người bán dâm, bác sĩ, nhà làm luật - chúng ta đều làm những việc nhất định với những bộ phận thân thể của chúng ta, và nhận được thù lao qua đó. Có những người nhận được thù lao cao, có những người không, có những người làm chủ được điều kiện làm việc của mình, có những người không, có những người có nhiều lựa chọn trong công việc, có những người không. Và có những người bị xã hội coi rẻ, và có những người không.”
Việc một xã hội coi rẻ ai, và xu nịnh ai, nói lên rất nhiều về bản thân xã hội đó.
Cảm ơn anh!
Theo Tuấn Ngọc
Một thế giới
Tuesday, 4 March 2014
Vì sao các phim bom tấn của Hollywood không quay tại Việt Nam?
Năm 2007, khi đạo diễn Mỹ nổi tiếng Oliver Stone đến Mỹ Lai (Quảng Nam) để chuẩn bị cho bộ phim “Pinkville” (Đề cập đến vụ thảm sát Mỹ Lai), một số “chuyên gia” kỳ cựu đã khẳng định: Oliver Stone sẽ không quay phim này tại VN!
… Và thực tế đúng như vậy. Họ còn chắc như đinh đóng cột rằng, trong tương lai sẽ không còn những phim lớn đến quay tại VN, nếu không có sự thay đổi mang tầm… quốc gia.
Cảm ơn các người láng giềng của Việt Nam

Cuộc chiến VN đã khiến cái tên VN trở thành một chủ đề lớn của điện ảnh thế giới suốt mấy chục năm. Tổng cộng trên thế giới có trên 70 phim liên quan đến chiến tranh VN, trong đó 99% là phim Mỹ (tất nhiên vì họ là nhân vật chính của cuộc chiến) còn lại là lẻ tẻ vài ba bộ phim của Hong Kong, Hàn Quốc…
Trong số này, một số phim đã trở thành những kiệt tác kinh điển của điện ảnh thế giới như: “Coming Home” (Hồi hương – 3 giải Oscar 1978), “Forrest Gump” (6 giải Oscar 1994), “Born on the 4th of July” (Sinh ngày 4/7 – 2 giải Oscar 1989), “Apocalyse Now” (Ngày tận thế – 2 giải Oscar và Cành Cọ Vàng LHP Cannes 1979), “Birdy” (Ước là chim – Giải thưởng lớn BGK tại LHP Cannes 1984), “Full Metal Jacket” (Áo giáp thép – Đoạt hàng chục giải thưởng điện ảnh lớn nhỏ trên thế giới)…
Nhưng điều đáng nói ở đây là hơn 70 phim về đề tài chiến tranh VN (tất nhiên bao gồm cả những kiệt tác nêu trên)… đều không quay ở VN! Điều này cũng dễ hiểu bởi khoảng 10 năm đầu sau 1975, lệnh cấm vận nghiêm ngặt của chính phủ Mỹ khiến các dự án phim Mỹ không thể quay ở VN. Tuy nhiên đối với các nhà làm phim và đạo diễn có nhiều quyền lực, lệnh cấm vận của chính phủ Mỹ chẳng là gì, nếu họ thật sự muốn quay bộ phim tại chính nơi câu chuyện diễn ra.
Các nhà làm phim đã tìm đến các nước Đông Nam Á và họ phát hiện ra rằng, khí hậu, bối cảnh, thời tiết, và con người ở những nước này cũng tương tự như ở VN – đặc biệt giống nhất là Philippines (2 siêu phẩm “Apocalypse Now” và “Platoon” đều được quay toàn bộ ở đây). Sau này, tình hình chính trị bất ổn và sự nổi dậy của các nhóm phiến quân, nạn bắt cóc và khủng bố khiến Philippines phải nhường… Việt Nam lại, và Thái Lan trở thành… bối cảnh Việt Nam được ưa thích nhất của các nhà làm phim phương Tây.
Chỉ trong khoảng 25 năm từ 1975 – 2000, hàng loạt bộ phim có liên quan đến câu chuyện, bối cảnh, và con người VN đã mang lại không biết bao nhiêu lợi ích… cho các nước trong khu vực: Hàng chục triệu USD đổ vào cho mỗi dự án, tạo công ăn việc làm cho người dân.
Quan trọng nhất là nhân sự của nước đó tiếp cận được với công nghệ làm phim đỉnh cao. Chuyên môn sản xuất phim được rèn luyện và đào tạo miễn phí, góp phần nâng tầm kỹ thuật cho điện ảnh của nước sở tại.
Khi phim chiếu ra, hàng triệu khách du lịch đổ xô đến những nơi dùng làm bối cảnh phim. Khi phim đoạt giải, những lời cảm ơn có cánh bay tới tấp đến đất nước đã cho mượn địa điểm giả làm bối cảnh VN…
Còn chúng ta thì sao? Cầm vàng… sao để vàng rơi?

Ít ai biết cách đây gần 20 năm (khoảng 1990), đạo diễn Oliver Stone đã sang VN để xin chính thức quay bộ phim thứ 3 của ông về đề tài chiến tranh VN, “Heaven & Earth” (Trời và đất). Lúc ấy danh tiếng của Oliver Stone đang ở trên đỉnh cao, vì ông vừa mới đoạt giải Oscar lần thứ 2 với phim “Sinh ngày 4/7”.
Ở đây mọi thứ đều suôn sẻ, ngoại trừ kịch bản có một vài chi tiết nhạy cảm liên quan đến hình ảnh của người chiến sĩ cách mạng, khi Oliver được yêu cầu phải cắt, ông đã nửa đùa nửa thật rằng: “Ngay cả ở Mỹ, tổng thống cũng không được quyền đòi cắt kịch bản của tôi!”
Tuy nhiên vì rất muốn quay một bộ phim tại chính vùng đất đã mang lại nhiều vinh quang cho mình, nên Oliver Stone chấp nhận sửa lại chứ không cắt. Tuy nhiên đề nghị này của ông không được chấp nhận. Thế là Oliver Stone, cùng các nhà sản xuất quyết định cầm hơn 30 triệu USD chuyển sang Thái Lan để làm giả bối cảnh VN!
Duyệt kịch bản và cấp giấy phép cũng là chuyện bình thường trên thế giới, nhưng một thời kỳ dài ở ta là điều khó hiểu đối với các đoàn phim nước ngoài, kể từ sau vụ bộ phim Hong Kong đầy tai tiếng “Yêu tiếng hát Việt Nam’’ – khiến hàng loạt quan chức bị kỷ luật ở cuối thập niên 1980. Kịch bản nước ngoài xin phép sản xuất tại Việt Nam đều phải duyệt càng lúc càng khó khăn, chỉ cần có chi tiết dễ liên tưởng đến những vấn đề nhạy cảm, là phải sửa hoặc “stop”.
Nhưng có lẽ điều khiến các nhà làm phim nước ngoài vào Việt Nam sợ nhất là thời gian chờ đợi để có giấy phép. Không ít dự án phim phải chìm xuống vì chờ duyệt không nổi. Đồng tiền của nhà sản xuất phải luân chuyển để đầu tư vào chỗ khác! Nguyên do chậm thì nhiều, nhưng có lẽ bắt nguồn từ năng lực thẩm định, qua ý kiến của nhiều người vì… sợ trách nhiệm! Trong lịch sử làm dịch vụ phim nước ngoài, chúng ta chưa bao giờ xem việc chào đón các dự án phim nước ngoài đến quay tại VN như một cơ hội làm ăn và quảng bá hình ảnh đất nước, mà luôn đối xử với họ như kiểu… ban ơn!
Năm 1999, bộ phim “Going Back” (sau này công chiếu đổi lại thành “Under Heavy Fire”) đã được cấp phép quay tại VN, nhưng lại bị “sao quả tạ” chiếu vào! Đây là phim chiến tranh, các loại đạo cụ súng ống hạng nặng ta không có, phải nhập vào từ nước ngoài thì các cấp có trách nhiệm ngại ngùng, phải đi lòng vòng xin phép các nơi cực kỳ mệt mỏi. Đến khi họ không thể chờ đợi và chấp nhận sử dụng quân khí trong nước, thì riêng việc xin phép đi tham quan tại các bảo tàng quân sự cũng phải chờ sự chấp thuận của… Bộ Quốc phòng! Rốt cuộc đoàn “Going Back” đã kéo sang Philippines quay và không hẹn ngày trở lại như cái tên phim!
Năm 2001, bộ phim kinh dị của Hàn Quốc về chiến tranh VN, “R-Point” (Điểm R) cũng đã có giấy phép quay sau bao gian truân. Nhưng rồi họ cũng bị vướng phải rào cản: khí tài chiến tranh. Trong phim có một cảnh phải xuất hiện chiếc trực thăng chuồn chuồn của Mỹ (sử dụng trong chiến tranh VN). Loại này ở ta cũng có, nhưng tất cả đều đã hết giờ bay từ rất lâu, nên phía Hàn Quốc đề nghị mang trực thăng từ nước ngoài vào. Vì phải chờ quá lâu để có câu trả lời chính thức từ phía Việt Nam về việc này, nên đoàn “R-Point” đã sang Campuchia để thực hiện bộ phim!
Cột mốc Bond 18!

Năm 1995, vài tháng sau khi tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ với VN, một đoàn tiền trạm từ Mỹ đến VN để khảo sát bối cảnh cho một bộ phim. Đi khảo sát nơi đâu hoặc đến đâu họ cũng để lại name card, trên đó có in rõ logo nổi tiếng của loạt phim về siêu điệp viên James Bond 007: 2 số 0 và số 7 cách điệu từ khẩu súng lục.
“James Bond” là loạt phim nổi tiếng nhất thế giới. Nhân vật điện ảnh bất tử này tồn tại đã trên nửa thế kỷ mà vẫn luôn ăn khách. Đặc điểm của phim “007” là quay ở nhiều nước. Họ đến quay ở đâu, danh tiếng của bộ phim là đảm bảo bằng vàng cho du lịch ở đó phát triển.
Việc “James Bond 007” “mở hàng” cho một bộ phim Mỹ đầu tiên quay tại VN thu hút sự quan tâm của cả Hollywood, bởi lúc ấy việc bình thường hóa quan hệ với VN sẽ mở ra một cơ hội tốt cho các bên và điện ảnh là cú hích hàng đầu. Thậm chí khi nghe “007” chuẩn bị ở VN, vợ chồng Tom Cruise và Nicole Kidman đang đi du lịch ở châu Á, đã bí mật ghé sang VN để gặp gỡ các nhà sản xuất…
Bộ phim lúc ấy chưa có tên chính thức, chỉ có tên tạm đặt là “Bond 18”. Vì tính chất quan trọng của bộ phim nên việc duyệt và cấp phép phải có sự chấp thuận từ các cơ quan có thẩm quyền cao nhất. Ngày nhận được quyết định chính thức, cả đoàn Bond đã khui champagne ăn mừng và lập tức triển khai rầm rộ.
Họ dự định sẽ quay 3 tuần và chuẩn bị trong 3 tháng, chỉ cho một trường đoạn hấp dẫn nhất của phim: Cảnh rượt đuổi bằng xe máy BMW phân khối lớn giữa Pierce Brosnan, Dương Tử Quỳnh và những kẻ xấu. Ngoài ra còn thêm một vài cảnh quay ở Vịnh Hạ Long. Dự kiến họ sẽ tiêu tốn khoảng 5 triệu USD chỉ trong vài tháng ở VN.
Mọi việc đang tiến triển tốt đẹp thì ngày định mệnh đến. Buổi sáng hôm ấy vừa có thêm giấy phép chấp thuận từ Ủy ban nhân dân Tp.HCM, thì ngay chiều hôm đó, một công điện khẩn từ Cục Điện Ảnh gửi vào buộc phải dừng khẩn cấp mọi hoạt động của đoàn Bond 18 tại VN, mà không đưa ra một lời giải thích!
Sự kiện VN từ chối Bond 18 đã gây chấn động Hollywood và làm cả châu Á phải tiếc nuối, trừ Thái Lan… “vô tình lượm được cái bình!” Một nhà sản xuất phim người Philippines bình luận về sự kiện này: “Có lẽ VN là nước duy nhất trên thế giới “dám” nói không với James Bond. Nếu chỉ cần biết Bond có quan tâm đến Philippines một chút thôi, nước chúng tôi chắc chắn sẽ trải thảm đỏ để rước họ vào.”
Việc chuyển bộ phim sang Thái Lan là chuyện nhỏ đối với đoàn “Bond 18” dù thiệt hại của họ là rất lớn, nhưng tác hại của nó với VN là không sao tính nổi! Hàng loạt dự án chuẩn bị triển khai có liên quan đến VN, lập tức bị hoãn vô thời hạn với lý do mà bất cứ hãng phim nào của Hollywood cũng phải ngán: Không một ngân hàng hay tập đoàn tài chính bảo hiểm nào trên thế giới dám nhận bảo hiểm cho một bộ phim triển khai tại VN, vì rủi ro quá lớn!
Sau này khi xem “Tomorrow Never Dies” (tức “Bond 18”), không ai hiểu nổi lý do vì sao bộ phim bị đối xử như vậy. Và “nghi án” này đã khiến VN nằm trong danh sách những địa danh mà các đoàn phim Hollywood… không dám đặt chân tới! (“Người Mỹ trầm lặng” quay tại VN năm 2000 chỉ là một phim nhỏ không thuộc hệ thống của Hollywood).
Nếu bạn được xem các show diễn “007” khi đi du lịch Thái Lan, có phải móc tiền túi để được xem Vịnh Hạ Long và đường phố Sài Gòn “dỏm” ở Thái Lan, thì cũng ráng mà ngậm đắng nuốt cay… vì nghịch lý: Người Thái tuy “trâu chậm” nhưng lại “uống nước trong”.
Cơ hội ngày càng khó

Khoảng 3 năm trở lại đây, các hãng phim lớn nhất thế giới đã thống nhất đưa ra một quan điểm đầu tư điện ảnh mới. Sẽ không có chuyện các dự án triệu đô tự động “nộp mạng” cho các nước như trước đây. Mà chính các nước được chọn làm bối cảnh sẽ phải đưa ra những ưu đãi, và cam kết đặc biệt của chính phủ về chính sách thuế (tiếng Anh tạm gọi là Film Production Incentive) khi họ đổ hàng triệu USD vào nước đó để sản xuất phim. Nước nào đưa ra chính sách ưu đãi kinh tế tốt nhất, các đoàn phim sẽ tới.
Chính sách này hiện đang rất phổ biến trên thế giới (ngay cả trong nước Mỹ, mỗi bang đều đưa ra những chính sách khác nhau để lôi kéo các đoàn phim). Ở châu Á, đã có nhiều nước tham gia, Thái Lan cũng đang chuẩn bị lộ trình để nhanh chóng gia nhập Incentive. Nhưng họ cũng biết rõ lợi thế của mình với Hollywood – Muốn quay phim về VN… chỉ có cách tốt nhất là đến Thái Lan! Đó là lý do vì sao Oliver Stone khi chuẩn bị cho “Pinkville” đã chọn sản xuất ở Thái từ lâu, và việc đến VN chỉ hoàn toàn mang tính ngoại giao thăm hỏi!
Trước nay, mỗi lần có đoàn phim nước ngoài sang, nhiều người trong chúng ta chỉ quan tâm đến việc phim đó có nói xấu, có xuyên tạc bôi nhọ VN không, chứ chưa chịu xem đó là cơ hội để mở mang đất nước. Mà thật ra cũng dễ thấy, nếu thực sự muốn làm điều xấu thì họ sẽ sang nước khác quay chứ dại gì làm ở VN. Gần 70 phim truyện về đề tài chiến tranh VN (trong đó có rất nhiều phim xuyên tạc bôi nhọ), có phim nào quay ở VN đâu! Trong khi đó những đoàn phim đến VN thật sự bằng thiện chí thì chúng ta đã cư xử với họ thế nào!?
Đã quá muộn để sửa sai, vì chúng ta đã mất khoảng 20 năm niềm tin để hội nhập với thế giới điện ảnh. Nay cơ hội đó càng khó khăn hơn gấp vạn lần với quy chế Incentive đang áp dụng trên toàn cầu. Nói là khó khăn bởi hiện nay, dù những người trong ngành quản lý điện ảnh có biết đến quy chế Incentive, nhưng để vận dụng được ở VN sẽ phải mất rất nhiều thời gian.
Bang Robe
Subscribe to:
Posts (Atom)